Trường Canh thở dài, im lặng đút thuốc cho y, sau đó ở bên trông chừng.
Cố Quân dường như không thoải mái, lăn qua lộn lại, sắp đá văng chăn, Trường Canh đắp cho y vài lần, cuối cùng bọc kín ôm trong lòng luôn.
Kể cũng lạ, có lẽ do Cố Quân từ nhỏ chưa từng đặc biệt thân cận với ai, lúc này cảm thấy lưng mình dựa vào người ta, liền nằm yên, người ôm y cẩn thận đổi cho y tư thế thoải mái nhất, an thần tán Trần cô nương phối chế tràn ngập trong hơi thở, một bàn tay vừa vặn lướt qua trán y, ngón tay không nhẹ không nặng ấn trán và kiên cảnh.
Cố Quân đời này chưa từng được ngủ trên cái “giường” thoải mái như vậy, chớp mắt đã chẳng còn biết trời trăng gì.
Thời gian yên tĩnh nhanh chóng vô thường như nước chảy, mới chớp mắt mà nửa canh giờ đã qua.
Trường Canh liếc đồng hồ để bàn bên cạnh một cái, thật sự không nỡ chút nào – vừa không nỡ buông Cố Quân ra, cũng không nỡ đánh thức y.
Nhưng chẳng có cách nào, binh họa như lửa sém lông mày, phóng nhãn ra khắp thiên hạ, còn nơi nào có thể cho y ngủ yên?
Trường Canh đành phải cố hạ quyết tâm, búng nhẹ huyệt vị của Cố Quân, đúng giờ đánh thức y, bản thân đứng dậy đi xuống bếp.
Trong lòng Cố Quân liên tục căng thẳng, một bát thuốc một thân mồ hôi, liền dằn bệnh khí xuống, nghỉ ngơi nửa canh giờ, chờ tỉnh dậy thì đã gần hết sốt, y nằm ườn trên giường một lúc mới khoác áo dậy, cảm thấy mình đã sống lại.
Người dễ chịu hơn, lòng y cũng thoải mái theo không ít.
Cố Quân nghĩ: “Không phải là một đám người Tây Dương thôi sao? Thực sự thần thông quảng đại như vậy, thì cần chi giở âm mưu quỷ kế?”
Dù tệ hơn, y cũng còn sống, chỉ cần Cố gia còn người, Huyền Thiết doanh sẽ chưa tính là toàn quân bị diệt.
Cố Quân thở phào một hơi dài, lúc này mới phát hiện mình đã đói móp bụng, y đau khổ ấn dạ dày mà nghĩ: “Nếu bây giờ có ai cho ta hai cái bánh nướng nóng, ta sẽ cưới người đó về nhà luôn.”
Đang nghĩ thì Trường Canh bưng một bát mì nóng hổi vừa thổi vừa xơi đi vào, hơi nóng và mùi thơm không chút khách khí hất vào mặt, ngũ tạng lục phủ Cố Quân đều đói khát đến quéo cả lại.
Y buồn bực tự nuốt lời: “Ngoại trừ người này, không thể tính…”
Nào ngờ vừa nghĩ như vậy, bên ngoài đột nhiên đúng lúc sấm rền một tiếng.
Cố Quân: “…”
Trường Canh đưa tay sờ thử trán y: “Hạ sốt rồi, nghĩa phụ tới ăn một chút trước đi.”
Cố Quân im lặng nhận đũa, nghe hai chữ “nghĩa phụ”, bỗng nhiên mơ hồ cảm thấy có chỗ nào là lạ, đáng tiếc ý nghĩ này chỉ thoáng qua, y không thể bắt được.
Cố Quân: “Ngươi nấu à?”
“Gấp gáp chỉ kịp nấu đại một bát mì.” Trường Canh mặt không đổi sắc nói: “Tạm được chứ?”
Cố Quân tức khắc không dễ chịu lắm, không biết đường đường “Nhạn Bắc vương” biến mình thành “hiền huệ” như vậy là muốn làm gì.
Trường Canh tựa hồ nhận ra y đang nghĩ gì, bình tĩnh nói: “Nếu mất nước, thì đẩy Lý Phong đi, con đến Tây Bắc mở quán mì, cũng đủ sống.”
Cố Quân sặc mì, ho đến chết đi sống lại.
Trường Canh cười nói: “Con đùa thôi.”
Cố Quân cầm một chén trà lạnh dốc một ngụm: “Hài tử giỏi lắm, biết lấy ta ra tiêu khiển rồi, thật là càng ngày càng không ra gì.”
Trường Canh nghiêm mặt nói: “Năm đó ở Nhạn Hồi, người đột nhiên muốn dẫn con về kinh thành, con đã định bỏ chạy, nghĩ hoặc là vào núi thẳm rừng già làm thợ săn, hoặc tìm một nơi nho nhỏ ở biên thùy, mở cái quán ngắc ngoải, đủ sống qua ngày là được, nhưng sau đó cảm thấy mình không thể trốn khỏi tầm mắt người, nên liền ngoan ngoãn.”
Cố Quân gạt rau ra, vớt miếng chân giò hun khói dưới đáy lên ăn, không đợi y nhai nát, Trường Canh bỗng nhiên dựa lên lưng ghế, thở phào một hơi dài: “Nghĩa phụ không biết đâu, người một ngày không bình an xuất hiện trước mặt con, thì con một ngày không dám chợp mắt, cuối cùng…”
Cố Quân sắc mặt thản nhiên nói: “Cách bình an còn mười vạn tám ngàn dặm cơ – ngươi nói một chút đi.”
Trường Canh ngầm hiểu, biết y đang chỉ chuyện không nói ra trước mặt Lý Phong.
Cố Quân: “Huyền Thiết doanh nhất định là do ngươi rút về, bằng không bọn Hà Vinh Huy chưa biết chừng sẽ đánh tới người cuối cùng.”
“Con bắt chước nét chữ của người.” Trường Canh nói, “Để Huyền Thiết doanh rút về Gia Dự quan, lại cho Thái Phân tướng quân Bắc thượng cứu viện biên cương, tính thời gian thì chắc hẳn tử lưu kim cấp báo ở bên phía Hà tướng quân đã đến tay – việc này không cần cho Lý Phong biết, dù sao y đã nghĩ chỉ hủy lệnh kích trống rồi.”
Cố Quân chớp chớp mắt: “Ngươi biết bắt chước…”
“Đều là bàng môn tà đạo thôi.” Trường Canh lắc đầu, “Bên phía Giang Nam con vốn đã truyền tin cho sư phụ, không ngờ vẫn không kịp, ngoài ra con hoài nghi trong cung có gián điệp hai mươi năm trước Bắc man lưu lại, đã nhờ người đi tra, bên phía Thẩm tướng quân vẫn chưa có tin tức gì, chỉ sợ sẽ không có tin tốt.”
“Không có tin tức chính là tin tức tốt nhất,” Cố Quân im lặng chốc lát, nói, “Lão mụ tử đó mạng lớn lắm, không chết được đâu.”
Trường Canh: “Nghĩa phụ, Tây Bắc thế tới rào rạt, nhưng hiện tại xem ra, nhất thời sẽ chưa có việc gì, theo người thì sau họa Đông Hải, kinh thành có thể thủ được không?”
Cố Quân ngẩng đầu nhìn y một cái, đôi mắt ấy như một đôi đá lửa, lạnh lẽo, cứng rắn không nói thành lời, lại phảng phất như chạm nhẹ là có thể bùng lên hỏa hoa.
Trong phòng chỉ có hai người là y và Trường Canh, chính giữa cách một bát mì, Cố Quân liền không nói lời hình thức, thành thật đáp: “Thế phải xem chúng ta có thể chèo chống đến khi có viện quân hay không. Ngàn dặm tập kích bất ngờ, người Tây Dương cũng muốn tốc chiến tốc thắng, nếu không sẽ không có mở màn lớn như vậy, vốn dĩ kéo dài càng lâu càng có lợi cho chúng ta, nhưng…”
Nhưng quốc lực Đại Lương không kham được đánh lâu dài.
Lý Phong điên cuồng muốn quặng tử lưu kim Lâu Lan, là bởi vì ở cái nơi đất rộng của nhiều nhất trên đời này, quặng tử lưu kim cực kỳ hiếm, hoàn toàn cung không đủ cầu, gần bốn phần tử lưu kim của Đại Lương là do mười tám bộ lạc tiến cống, còn có một phần lớn tựa hồ mua rải rác từ bên ngoài, bạc chảy vào nhờ hải vận thông thương lại đều chảy ra như vậy.
Trước mắt mười tám bộ lạc phản loạn, tứ cảnh bị vây, điều động được chỉ có tử lưu kim tồn kho, cứ thế mãi tất nhiên số vào chẳng bằng số ra.
Đây mới là tử lưu kim, huống chi quốc khố còn gầy còm hơn hoa cúc nào có lắm bạc như thế?
Cố Quân: “Theo lời ngươi nói, vạn nhất cuối cùng không xong, thì co cụm binh lực toàn cảnh, từ từ tính tiếp, cố nhiên là cách làm lý trí nhất, song vị tất có thể được. Huyền Thiết doanh lui thủ Gia Dự quan thì thôi – ngoài Tây quan mặc dù bình thường náo nhiệt, qua lại phần lớn là thương nhân tạm trú, con đường tơ lụa mới thông vài năm, chưa đủ để họ định cư, trước sau Tết con đường tơ lụa không khí căng thẳng, quan khẩu vừa đóng thì chẳng làm ăn được gì, hiện tại chắc đã đi gần hết, nhưng trong quan thì không thể, trong quan còn có ngàn thôn vạn hộ và vô số bách tính, Hà Vinh Huy không thể lui nữa.”
Huyền Thiết doanh là tín ngưỡng thậm chí trụ cột của dân gian Đại Lương, một khi trụ cột này đổ, thật sự chẳng cần đánh trận nữa, giang sơn trực tiếp đổi tên thay họ luôn cho nhanh.
Trường Canh trầm mặc chốc lát: “Con nói là tình huống vạn bất đắc dĩ.”
“Không có vạn bất đắc dĩ.” Cố Quân lắc đầu, “Ngươi có tài, biết cách bài bố xã tắc, nhưng chưa từng đánh giặc, đánh giặc trừ thiên thời địa lợi thì còn hai thứ, một là trang bị hỏa cơ cương giáp, hai là dũng khí không sợ chết, việc trang bị đã đến nước này, không còn cách gì… Nhưng ta tin quân Tây Dương dù mạnh, cũng chưa chắc mạnh hơn chúng ta bao nhiêu, càng khỏi bàn bọn nhà quê người man cho đại bác cũng có thể dùng làm chày – thuộc hạ binh tướng không phải quân cờ, đó đều là người, đều có huyết tính, cũng đều sợ chết, ngươi nhớ lần trước khi tiễu phỉ ở Tây Nam ta từng nói gì với ngươi chứ?”
Trường Canh: “Nhớ ạ, ‘Ra trận, ai không muốn chết sẽ chết trước’.”
Cố Quân “À” một tiếng, gia quốc điêu linh cũng không làm lỡ cơm nước, trong mấy câu, một bát mì to đã bị y ăn thấy đáy, cuối cùng bịt mũi dốc hết số rau củ đáng ghét lẫn trong nước mì, nhai cũng chẳng thèm nhai, xong xuôi y bỏ bát xuống bàn: “Còn không?”
“Hết rồi, con chỉ nấu một bát thôi, người mới bị bệnh, tì vị còn yếu, ăn no sáu bảy phần là tốt nhất.” Trường Canh nói, “Đánh thế nào, người quyết định, không cần có nỗi lo sau lưng, cũng không cần cố kỵ kẻ khác nghĩ gì, kiếm tiền làm sao, xoay tử lưu kim như thế nào, cách phân chia bố cục, những việc này có thể giao hết cho con.”
Cố Quân hơi chấn động, bật cười nói: “Chuyện gì ta cũng quyết được sao? Đánh không thắng thì làm thế nào?”
Trường Canh chỉ cười không đáp, đôi mắt chăm chú vào người y, như một đầm nước yên ả bỗng nhiên nổi lên gợn sóng, giả như ánh mắt biết nói thì một câu “Nếu người thua, con và người cùng gánh bêu danh thiên cổ, nếu người chết, con tuẫn táng cho người” đã tuyên bố rất rõ ràng.
Chính lúc này, Hoắc Đan chợt gõ nhẹ cửa: “Đại soái, Phụng Hàm công và Đàm tướng quân cùng đến, còn tiện đường mang đến phong chiến báo thứ hai của vùng Đông Hải.”
Cố Quân vội nói: “Mau mời!”
Trường Canh thu ánh mắt lại, dọn dẹp đũa, chớp mắt khi cúi đầu, y thình lình nói: “Vừa rồi còn có một câu là nói bừa.”
Cố Quân sửng sốt.
“Con nói năm đó không đi, là cảm thấy chạy không thoát tầm mắt người.” Trường Canh đầu cũng không ngẩng lên, cười nói, “Năm đó con chẳng qua là một thiếu niên biên thùy lớn lên ở nơi bé tí, trong lòng căn bản không nghĩ nhiều như vậy…”
Cố Quân đã nhạy bén nghe ra ý tại ngôn ngoại, nghiêm mặt nói: “Trường Canh, đừng nói nữa.”
Trường Canh biết điều ngậm miệng, nuốt lại câu kế tiếp.
Lúc ấy trong lòng y căn bản không nghĩ nhiều như vậy, sở dĩ cuối cùng không trốn, chỉ là không bỏ được một người mà thôi.
Đàm Hồng Phi và Trương Phụng Hàm nhanh chóng tiến vào, chiến báo tiền tuyến gắn kỹ đệ trình lên trước mặt Cố Quân, tay Đàm Hồng Phi còn hơi run, lòng Cố Quân chùng xuống.
“Đại soái, Giang Nam đến báo, thủy quân của ta tan tác ngàn dặm, quân Tây Dương đã tiến về phương Bắc, bọn người Tây Dương kia không biết dùng loại giao gì mà nhanh như chớp giật, chọi lại hai ba giao thuyền thủy quân ta, chính giữa còn vây một đại hải quái.” Đàm Hồng Phi nói, “Nếu đây không phải là nói bậy, vậy họ Bắc thượng đến cảng Đại Cô, cũng chỉ khoảng hai ba ngày nữa thôi.”