Nghe được kết luận ấy, Leonard đi lại vài bước, thậm chí còn đi tới cạnh cửa, hồi lâu sau mới nói: “Đã đến đây trước vậy chúng ta tới trại tế bàn khu phía tây đi, xem có phát hiện manh mối khác, để xem hai cái chết này có xâu chuỗi gì với nhau không.”
“Ừ, chỉ có thể như vậy.” Nín đầy một bụng nghi hoặc, Klein mở miệng đồng ý.
Frye xách rương lên, vừa đi vừa nhảy qua hai chiếc đệm, không đạp lên chăn của người khác.
Leonard mở cửa phòng rồi đi ra trước, nói với Lauwis và khách thuê: “Các vị về phòng được rồi.”
Klein suy nghĩ rồi bổ sung: “Đừng vội hạ táng, chờ một ngày nữa có lẽ còn khám nghiệm thêm lần nữa.”
“Vâng, vâng, sĩ quan cảnh sát.” Lauwis khẽ khom người, vâng dạ liên tục, sau đó nửa chết lặng nửa mờ mịt mà nói: “Thực ra tạm thời tôi chưa có tiền chôn cất cô ấy, còn phải kiếm thêm vài ngày nữa, phải vài ngày nữa. May là dạo này trời mát mẻ.”
Klein ngạc nhiên thốt lên: “Ông định để xác chết ở trong phòng mấy ngày cơ á?”
Lauwis gắng gượng cười: “Ừ, cũng may là trời mát mẻ rồi, đến tối có thể để xác lên bàn, lúc ăn thì ôm cô ấy xuống giường…”
Ông ta còn chưa nói xong, Frye đột nhiên ngắt lời: “Tôi để chi phí chôn cất bên cạnh vợ ông rồi.”
Sau khi bỏ lại một câu bình thản ấy, chẳng hề để ý tới vẻ mặt kinh ngạc và lời cảm ơn tiếp sau của Lauwis, anh ta rảo bước ra khỏi cổng nhà trọ.
Klein theo sát phía sau, luôn nghĩ tới một vấn đề: Nếu trời vẫn duy trì nhiệt độ tháng sáu tháng bảy, Lauwis sẽ làm gì với xác vợ ông ta? Chờ tới một đêm tối gió to, lén lút ném xác vào sông Tasok hoặc sông Hoy? Hay là tìm một chỗ đào hố rồi chôn?
Klein biết từ hơn một nghìn năm trước, vào những năm cuối của kỷ nguyên trước, vì để loại trừ quỷ nước, cương thi và oan hồn, bảy giáo hội lớn và hoàng gia các vương quốc đã đưa ra luật rằng “bắt buộc phải chôn cất ở nghĩa trang”. Biện pháp thực thi cụ thể là do các quốc gia cung cấp đất miễn phí, các giáo hội phụ trách trông coi hoặc tuần tra, và chỉ thu chi phí rất ít khi hỏa táng với chôn cất để lấy tiền trả cho công lao động cần thiết.
Nhưng dù vậy, dân nghèo vẫn không có khả năng chi trả.
Sau khi rời khỏi số 134 phố Chữ Thập Sắt, ba vị Kẻ Gác Đêm tạm biệt Beech Mountbatten, im lặng rẽ vào trại tế bần ở con phố gần đó.
Vừa tới gần, Klein đã thấy một hàng người xếp dài, hệt như dân của nước ăn tham ở Trái Đất đứng xếp hàng trước các cửa hàng, người kề vai người, chen chúc nhau.
“Chỗ này phải tới hơn một trăm, không, gần hai trăm người rồi.” Hắn kinh ngạc thì thầm, thấy người đứng xếp hàng đều ăn mặc quần áo cũ và rách, vẻ mặt chết lặng, thi thoảng lại lo lắng nhìn cửa trại tế bần.
Frye bước chậm dần, nói với khí chất lạnh lẽo và âm trầm: “Mỗi ngày mỗi một trại tế bần đều chỉ nhận được một lượng người nghèo có hạn, chỉ có thể lựa chọn từ thứ tự xếp hàng. Đương nhiên bọn họ cũng giám định để không cho người không có điều kiện phù hợp vào.”
“Cũng liên quan tới việc kinh tế mấy tháng nay đình trệ…” Leonard cảm khái.
“Những người không được chọn sẽ phải tự nghĩ cách à?” Theo bản năng, Klein hỏi một câu.
“Bọn họ có thể tới trại tế bần khác thử xem. Thời gian mở cửa của các trại tế bần khác nhau, chẳng qua hàng cũng dài như này, có người đã chờ từ tận hai giờ chiều rồi.” Frye dừng lại một chút rồi nói: “Quá nửa những người còn lại sẽ nhịn đói nguyên ngày, cũng mất năng lực tìm việc, rơi vào vòng tuần hoàn ác tính mãi tới khi chết. Người không chịu nổi sẽ từ bỏ sự kiên trì hướng thiện của mình…”
Klein im lặng vài giây, rồi thở hắt ra: “Chưa thấy bao chí đăng về những chuyện này bao giờ… Frye, ít khi tôi thấy anh nói nhiều như vậy.”
“Tôi từng làm mục sư ở trại tế bần của Nữ Thần.” Frye vẫn ở trạng thái lạnh lùng này.
Ba người ăn mặc gọn gàng đi tới cửa trại tế bần khu phía tây, đưa giấy chứng nhận cho người gác cửa đang ngạo mạn trông coi hàng người, rồi được dẫn vào trong trại.
Trại tế bần này được cải tạo từ một giáo đường cũ. Sảnh làm lễ Mi-sa được trải những chiếc đệm, treo những chiếc võng. Mùi mồ hôi với mùi thối bàn chân ngập tràn tới từng ngóc ngách.
Cả trong và ngoài phòng, những người nghèo vô gia cư vung búa đập vỡ tảng đá, một số khác thì lột sợi thô ra từ những dây thừng cũ, chẳng có ai là ngồi không.
“Vì để dân nghèo không ỷ lại vào cứu tế, trở thành kẻ vô lại, luật Tế Bần năm 1336 quy định rằng mỗi một dân nghèo chỉ được ở trong trại tế bần tối đa năm ngày, hết thời gian sẽ bị đuổi ra. Mà trong năm ngày này, bọn họ phải lao động bằng việc đập vỡ đá hoặc rút sợi dây thừng. Đây là những việc bắt buộc cho đám tội phạm trong nhà giam.” Frye nói qua với chất giọng không chút cảm xúc cho Klein và Leonard.
Leonard há miệng, cuối cùng không biết là anh ta đang châm chọc hay trần thuật: “Rời khỏi trại tế bần này thì có thể tới trại khác, đương nhiên là chưa chắc đã được vào… Ôi, có lẽ trong mắt người khác, dân nghèo chả khác gì lũ tội phạm.”
“… Rút sợi dây thừng?” Sau một lúc im lặng, Klein không biết hỏi gì.
“Sợi trong dây thừng cũ là vật liệu rất tốt để nhét vào kẽ hở của thuyền bè.” Frye dừng lại, tìm được một dấu vết cháy đen dưới đất.
Bọn họ chờ vài phút, trưởng trại tế bần và mục sư chạy tới. Bọn họ đều là những người đàn ông hơn bốn mươi tuổi.
“Sols phóng hỏa ở đây, cuối cùng chỉ thiêu chết chính mình à?” Leonard chỉ vào dấu vết dưới đất.
Trưởng trại tế bần là một người đàn ông có vầng trán hơi rộng, ông ta dùng con mắt màu lam quét qua phía đốc sát Mitchell chỉ, rồi gật đầu khẳng định: “Đúng vậy.”
“Trước đó Sols có biểu hiện gì khác thường không?” Klein hỏi bổ sung.
Trưởng trại tế bần suy nghĩ một chút rồi đáp:
“Người ngủ bên cạnh anh ta nói rằng Sols cứ lẩm nhẩm là “Chúa đã từ bỏ tôi”, “Thế giới này quá bẩn thỉu”, “Tôi chẳng còn gì cả”… Lúc nào cũng cảm thấy oán hận và tuyệt vọng. Nhưng không ai ngờ anh ta lại định nhân lúc mọi người ngủ, đập vỡ toàn bộ đèn dầu hỏa, phóng hỏa đốt cháy nơi này. Cảm ơn chúa, có người phát hiện đúng lúc nên đã ngăn chặn được hành vi tội ác của anh ta.”
Klein và Leonard tìm những người ngủ cạnh Sols tối hôm qua, tìm người bảo vệ đã ngăn chặn thảm kịch, nhưng chỉ nhận được những câu trả lời không khác gì trong tài liệu. Đương nhiên bọn họ đã ngầm sử dụng linh thị hay bói toán để xác nhận xem đối phương có nói dối không.
“Thoạt trông Sols đã có ý định trả thù và tự sát từ trước, dường như đây là một vụ án rất bình thường.” Leonard làm cho trưởng trại và mục sư đi trước, rồi mới nói.
Klein châm chước: “Kết quả bói toán của tôi nói rằng vụ án này không bị ảnh hưởng bởi yếu tố siêu phàm.”
“Vậy tạm thời loại trừ vụ án này ra.” Leonard kết luận.
Đúng lúc này, Frye đột nhiên nói: “Không, có lẽ còn có khả năng khác. Ví dụ như Sols bị người khác xúi giục, mà kẻ kia là người phi phàm nhưng lại không sử dụng năng lực siêu phàm.”
Klein nghe mà mắt sáng ngời, bèn tỏ vẻ đồng ý: “Có thể lắm, ví dụ như Kẻ Xúi Giục lúc trước ấy!”
“Kẻ Xúi Giục” Treece!
Nhưng vụ này với cái chết của bà Lauwis hoàn toàn không liên quan gì… Hắn nhíu mày nghĩ.