Hoàng đế có được nữ tử lục cung, cảm thấy biểu tỷ Tình Nhu tình cảm chân thành trong lòng mình thân thể phóng túng, bản chất mẫu mực. Nghĩ vậy, ông dần thoải mái hơn.
Ông chuẩn bị để ngày hôm sau nói với Thái Hậu, hạ chỉ tứ hôn.
Ngày hôm sau, lúc Gia Khang Đế đến gặp Thái Hậu, Quỳnh Nương cũng đang ở đó.
Vị Thiều Dung công chúa này đúng là cái gương thương nhân của Đại Nguyên triều, nghe nói nàng ta mang những đồ chơi tinh xảo đó chào hàng cho toàn bộ quý nữ Hạ Cung.
Bây giờ vị công chúa này lại hiến bảo cho Thái Hậu, tuy không bán nhưng ông thấy nàng cũng muốn Thái Hậu đeo trang sức của mình, làm mẫu cho các quý phụ cả triều, hút tiền bạc của mọi người đi.
Gia Khang Đế thích tích góp tiền bạc thấy, có thể kiếm tiền thật sự đúng là tài nghệ tuyệt hảo! Đáng tiếc lại là nữ tử, nếu là nam tử, tất nhiên sẽ đề bạt nàng vào sở bạc, thay Đại Nguyên triều làm kho bạc.
Quỳnh Nương là người khôn khéo, thấy hoàng đế đến nói chuyện với Thái Hậu liền thỉnh an tránh lui.
Hoàng Thượng nói chuyện với Thái Hậu một lúc rồi chuyển vào đề tài chính.
Nhưng nói đến chuyện hạ chỉ cho Sở Tà cưới Quỳnh Nương, Thái Hậu lại chém đinh chặt sắt nói: “Không ổn! Quỳnh Nương đã là nghĩa nữ của ai gia, làm gì có chuyện cháu ngoại trai cưới di mẫu?”
Gia Khang Đế thấy Thái Hậu nổi nóng, cẩn thận nói: “Hài tử Vong Sơn vốn có ý với Quỳnh Nương, nhưng người chưa hỏi đã nhận Quỳnh Nương làm nghĩa nữ, rối loạn bối phận của một đôi tiểu nhi nữ, hơn nữa Quỳnh Nương nhỏ tuổi hơn Vong Sơn, đâu có tính là di mẫu? Không thể bởi vậy mà khiến cho người có tình không được bên nhau?”
Thái Hậu nhắm hai mắt, vê Phật châu trong tay: “Hoàng Thượng nói như vậy là oán trách quyết định năm đó của ai gia, chia rẽ các ngươi?”
Tuy Gia Khang Đế có oán trách nhưng đâu thể thừa nhận trước mặt Thái Hậu? Ông chỉ có thể khe khẽ thở dài: “Nhi tử không dám, mẫu hậu làm vậy cũng vì suy nghĩ cho nhi tử, có điều Vong Sơn không ở hoàng tộc, không đáng bị nhiều gò bó như vậy phải không?”
Thái Hậu hơi mở mắt ra: “Ai gia biết con oán trách, ai gia cũng cảm thấy có lỗi với hài tử Tình Nhu, nhưng tới bây giờ lại càng cảm thấy năm đó chia rẽ các con là đúng. Hài tử Tình Nhu có tài văn chương, chí khí cũng cao, con cảm thấy tôn con bé làm Hoàng Hậu, con bé sẽ đồng ý theo bên cạnh con sao?”
Nói đến đây, Thái Hậu lại nhắm mắt lại, thở dài một hơi: “Con bé là nữ tử muốn một đời một kiếp chỉ có hai người, nhưng con là hoàng đế, tất nhiên phải lung lạc tông thân, cân bằng thế lực triều đình, triệt lập phi tần hậu cung không cùng một nhịp thở với triểu đình sao? Xuất thân là chuyện nhỏ, còn chuyện Tình Nhu dung người, không thể làm hậu.”
Thái Hậu vẫn còn một lời chưa nói ra, đó là trước đó lúc nhìn thấy Quỳnh Nương bà đã cảm thấy khí chất của nữ tử này tương tự Tình Nhu. Bà nhận Quỳnh Nương làm nghĩa nữ, ngoài cảm kích ân cứu mạng của tiểu trù nương ra, cũng là để chặt đứt niệm tưởng của hoàng đế, tránh cho hoàng đế động tâm quyết định phải nạp Quỳnh Nương vào cung, một đóa hoa dại kiêu ngạo lớn lên trên mặt đất sẽ khô héo mà chết đi.
Nào ngờ, lão tử không động niệm, tiểu tử lại có ý. Nhưng phủ trạch của Sở Tà là nơi hài tử như Quỳnh Nương có thể ở lại được sao?
Bây giờ bà lễ Phật, không thể gặp oan nghiệt, vốn không phải người đi chung đường, tội gì ở bên nhau? Bà kiên định bối phận trên dưới, tuyệt đối không đồng ý hôn sự hoang đường này.
Hoàng đế nói một lúc lâu, long tiên sắp hết cũng không lung lay được Thái Hậu.
Lúc từ biệt Thái Hậu từ cửa cung ra ngoài, Gia Khang Đế hoàn toàn đã quên tranh chấp với nhi tử trước đó, đặt bản thân vào đó, nhi tử không thể ở bên người trong lòng là biệt ly bi thương cha truyền con nối từ ông rồi.
Nghĩ vậy, Gia Khang Đế ngửa mặt lên trời thở dài, nhi tử phải tự kiềm chế thôi, tránh cho làm bụng di mẫu lớn lại không cưới được mẫu thân vào cửa.
Cảm giác nhi tử thân sinh của mình gọi người khác là cha… không dễ chịu!
Bên này Thái Hậu tranh chấp hôn sự của một đôi tiểu nhi nữ với hoàng đế chẳng xong. Bên kia đương sự lại hoàn toàn không biết chuyện.
Quỳnh Nương đi ra cửa cung Thái Hậu rồi dạo trong vườn theo đường mòn.
Mấy ngày nay hai thuyền hàng của nàng đã đặt hết. Tâm trạng rất thoải mái, chịu đựng được cửa ải quan trọng, phía trước là đường bằng phẳng.
Nhưng người thắng lớn nhất trong việc làm ăn nhờ kênh đào lại không phải nàng, có người còn biết cách làm giàu hơn nàng đấy!
Nghe nói bởi vì ngân lượng trong triều quay vòng không thuận lợi, cho nên kỳ hạn công trình cuối cùng của kênh đào phải giảm tiến độ. Lang Vương hào phóng giúp đỡ, đồng ý ứng khoản tiền công trình cho triều đình, vậy tính ra, hai tháng sau, thuyền nhỏ không ngậm nước sâu có thể thông hành. Bốn tháng sau, thuyền lớn cũng thông, kỳ hạn công trình nhanh hơn không ít.
Có điều để đền bù tiền công trình, thuế thu nhập từ đoạn kênh đào của Giang Đông trong mười năm đều quay về Giang Đông.
Quỳnh Nương gảy bàn tính, khoản tiền Lang Vương cho vay có thể so với tiền vay nặng lãi trong dân gian, quả thật là mua bán lãi mà không lỗ!
Đang nghĩ ngợi thì một nha hoàn vội vàng đi tới, chỉ trong chốc lát đã có một tờ giấy nhét vào trong tay nàng.
Vừa rồi Quỳnh Nương ngẩng đầu nhìn rõ ràng, nha hoàn nhét giấy đúng là Thúy Ngọc hầu hạ nàng trước kia.
Nhưng rõ ràng là một tiểu cô nương thanh tú, mới vừa rồi vội vàng thoáng nhìn qua, gương mặt sưng vù.
Đến nơi không người, Quỳnh Nương mở giấy ra. Trên giấy viết: “Thuốc viên của Thái Hậu kỵ hạnh nhân, nhớ kỹ.”
Quỳnh Nương đứng yên, nhìn tờ giấy im lặng một lúc lâu. Thái Hậu dùng thuốc viên Liễu Bình Xuyên hiến, nguyên liệu nấu ăn kiêng kị cũng cùng được đưa đến Ngự Thiện Phòng. Bởi vì nàng thường xuyên nấu đồ chay cho Thái Hậu nên cũng sao chép cho nàng một phần.
Bên trong quả thật có kỵ hạnh nhân.
Bởi vì Thái Hậu phổi hư ho khan nên nàng đã cho thêm hạnh nhân đắng vào rau trộn. Nhưng từ khi có thực đơn kiêng kị thì không còn cho vào nữa.
Vì sao Thúy Ngọc lại lo lắng truyền tờ giấy này cho nàng như sắp có chuyện vậy?
Quỳnh Nương nghĩ rồi lại nghĩ, vẫn không hiểu. Nhưng nàng ấy là Thúy Ngọc, nàng trải qua kiếp trước đã biết rõ phẩm tính, là một nha đầu thuần phác chính trực, nàng ấy viết như vậy tất có ý này!