* * *
Hóa ra toàn bộ quá trình giết người cướp lấy thai nhi cực kỳ man rợ này đều nằm trong kế hoạch định sẵn của phù thuỷ Tào Miêu Trạch. Khi bước chân ra chốn giang hồ hiểm ác bắt buộc con người ta phải tàn nhẫn, chỉ có thể tàn độc hơn kẻ khác mới sinh tồn được trong giới huyền thuật ấy. Những kẻ sở hữu được cho mình một con “Quái Vong Ma” mạnh mẽ, hay còn được gọi là “bùa hài nhi”, loại bùa cực mạnh vô cùng bá đạo. Thế nhưng chỉ có tác dụng phòng vệ chứ không hề mang ra sai sử giết chóc giống như âm binh được. Hài nhi khi vừa được móc ra từ bụng mẹ còn quá non nớt nên chưa biết thứ gì, chỉ vì có cùng huyết thống máu mủ nên nó luôn theo sát quấn quýt bên cạnh chủ nhân. Một khi chủ nhân bị kẻ địch tấn công, bị dồn vào hiểm cảnh nó liền lập tức bạo phát ra nguồn sức mạnh khủng khiếp để bảo vệ.
Kể từ ngày Tào Miêu Trạch luyện thành “bùa hài nhi”, khi hành tẩu trên chốn giang hồ luôn trang bị bên mình một tấm khiên chắn vô hình mạnh mẽ, chính thế nên hắn đã chẳng còn coi ai ra gì nữa rồi. Mà đúng là phù thuỷ Miêu Trạch mạnh thật, năm đó khi đắc tội với hầu hết các môn các phái, lại bị quần hùng dốc ra toàn lực truy sát nhưng cuối cùng cũng không làm gì được hắn. Về sau lại dần hình thành thanh thế, thu hút được nhiều bè phái vây cánh theo về quy tụ dưới trướng trở thành thế lực lớn mạnh nhất cát cứ một vùng.
Thế nhưng người đời thường vẫn có câu: “Thiên ngoại hữu thiên, nhân ngoại hữu nhân”. Mặc dù Tào Miêu Trạch đã là kẻ xuất chúng đương thời, vậy mà vẫn thua chỉ trong một trận. Nhục nhã hơn nữa là hắn lại thua bởi một gã thiếu niên miệng còn hôi sữa, vắt mũi chưa sạch, thế mới đau cơ chứ. Chẳng ngờ tên này tuy còn nhỏ tuổi mà căn số huyễn thuật đã thực sự hùng hậu đến thế, cũng không rõ là gã sử ra thuật gì đã khiến Miêu Trạch suýt mất đi cái mạng, buộc phải dùng tới “huyết độn thuật” mới may mắn chạy thoát. Tuy là thoát được nhưng về sau cơ thể liền mất dần sinh khí, lão hóa héo mòn dần trở thành một lão già, niên thọ cũng vì thế chỉ còn lại trong khoảng mười mấy năm ngắn ngủi.
Sau lần tranh phong đầy nảy lửa ấy Tào Miêu Trạch đã phiền muộn mãi, nhưng không phải vì thế mà hắn mất đi hy vọng. Dựa vào cuốn bí thuật cổ tịch đã trộm đi của sư phụ lúc rời núi, hắn liền có được pháp quyết tu luyện một môn huyễn thuật thất truyền cực kỳ tà dị bá đạo “Trường Xuân Hoán Huyết Chuyển Luân Công”. Một khi luyện được thuật này có thể dễ dàng “hoán thai chuyển cốt”, tuỳ tiện “đoạt xá” huỷ đi thần trí rồi nghiễm nhiên cướp lấy thân xác những kẻ xấu số. Tuy nhiên việc làm này vô cùng tổn hại âm đức, đi ngược với thiên ý nên rất dễ bị trời phạt đánh xuống thiên hình lôi kiếp.
Phù thuỷ năm đó đánh ra một quẻ bói tiên thiên, dám cược vận mệnh của bản thân trong nước cờ sinh tử. Quả nhiên vợ chồng quan tuần phủ Đặng Hà Long chính là những nạn nhân xấu số, là Dê béo mà phù thuỷ Tào Miêu Trạch đã nhắm tới.
* * *
Sau ngày về phủ phù thuỷ Miêu Trạch liền một bước lên mây, địa vị liền cao ngất trở thành vị quân sư tâm phúc nhất nhì trung quân, mọi việc lớn nhỏ đều nhất nhất được quan lớn tín nhiệm giao phó. Có thể nói lúc này phù thuỷ họ Tào đã chả khác chi “chuột sa chĩnh gạo”, quyền uy lẫm lẫm dưới một người mà trên cả vạn người. Nhiều năm sau đấy còn được quan lớn giao cho việc kèm cặp dạy dỗ cậu quý tử Đặng Tử Hiến, mong một ngày không xa cậu chủ thành tài làm dạng danh dòng tộc.
Thế rồi thời gian thấm thoát thoi đưa, chẳng ngờ trong một đêm giông tố bão bùng cậu chủ nhỏ Đặng Tử Hiến lúc này đã lên chín lên mười. Đêm nay đột nhiên phát cơn bạo bệnh rồi cứ thế lặng lẽ nhắm mắt xuôi tay qua miền cực lạc, đã khiến vợ chồng quan lớn tuần phủ như chết lặng. Nỗi đau lớn lao ấy chả khác chi chiếc búa tạ đập thẳng xuống đầu vợ chồng quan, nhất lại là quan bà, tình yêu thương mẫu tử thiêng liêng dành cho con sâu nặng đã khiến bà trở bệnh mà ốm đến liệt giường suốt mấy tháng trường.
Đến cuối năm ấy quan tuần phủ Đặng Hà Long có tráp triệu hồi vời kinh, theo hạn mười năm một lần ngài lại được nhà vua sai sứ hộ tống đoàn lễ vật triều cống xứ Tàu. Lệnh trên khó cưỡng, quan đi rồi sợ rằng ở nhà quan bà vì quá đau buồn mà chẳng may nghĩ quẩn. Bởi thế trong chuyến công du lần này quan dứt khoát dẫn theo phu nhân đi cùng, mặc cho quan bà đã mấy phen phản đối kịch liệt.
Vào gần trưa hôm ấy đoàn quan binh lúc đi ngang qua bản “Cọn” ngay chỗ gốc Đa cổ, đột nhiên từ trong kiệu lớn quan bà vén rèm rồi nhảy vụt xuống đường, trước sự ngỡ ngàng của biết bao con mắt. Quan bà không giữ nổi bình tĩnh nữa, nhằm một cậu bé bên đường lao tới ôm sầm lấy, cứ vậy lu loa tru tréo khóc lóc ầm lên, cũng không thiết giữ thể diện cho chồng nữa. Miệng thì không ngừng kêu gọi lớn:
– Ối giời đất ơi!.. Hiến con ơi.. Có đúng là con đấy không? Mẹ thương.. sao con chạy tới được đến đây để mẹ nhớ con quá..
Thế nhưng mặc cho quan bà có gọi thế nào thì cậu nhóc khờ vẫn cứ trơ trơ ra như gỗ đá. Cho tới lúc này thì quan lớn cũng đã chú ý đến cậu bé nọ, bản thân quan cũng tự giật mình kinh hãi. Chỉ biết lắc đầu ái ngại mà nghĩ thầm:
– Quái lạ thật!.. Sao trên đời này lại có người giống Tử Hiến của mình đến thế? Giống y như đúc thế này, bảo sao phu nhân lại chả kích động tới vậy.
Ngay lúc ấy đứng cách đó không xa, phù thuỷ Tào Miêu Trạch nội tâm cũng đang đấu tranh hết sức kịch liệt. Hắn vô cùng kinh ngạc, liên tục suy tính đặt ra những tình huống trong đầu:
– Giỏi!.. Giỏi thật.. Thần Hồn này quả nhiên mạnh mẽ.. Mặc dù đã bị ta phong ấn kỹ lưỡng là vậy mà vẫn có thể chạy thoát được tới chỗ này, còn có thể chiếm lĩnh một thân xác làm chỗ trú ngụ. Thôi được, đợi lão phu thu phục rồi luyện chế nhà ngươi thành ma đầu, xem sau này ngươi còn có thể bỏ chạy được nữa hay không.
* * *
Thì ra cái chết của tiểu thiếu gia Đặng Tử Hiến hoàn toàn có liên quan tới lão phù thuỷ họ Tào, lão đã phải nhẫn nhịn đợi chờ suốt mười năm dòng chỉ để trồng ra “Thần Noãn Mộc Tuỷ”. “Thần Noãn Mộc Tủy” thực chất chỉ là tên gọi của loại bí thuật “đoạt xá” trong giới huyền thuật, được sử dụng để chiếm lấy thân thể kẻ khác. Cũng bởi “đoạt xá” là nghịch thiên, do vậy kẻ luyện thuật phải làm từ từ để từng bước hoàn thành đại sự. Tuy nhiên vào thời khắc then chốt chẳng thể nào ngờ được “thần hồn” tiểu thiếu chủ Đặng Tử Hiến đột nhiên mở ra linh thức, chống cự vô cùng mãnh liệt. Thần thức ấy dứt khoát quyết đoán tự rời bỏ huỷ đi thân xác chứ không chịu để lại cho phù thuỷ chiếm đoạt, sau đấy lại theo phương thức kỳ bí nào đó mà phân tách ra vô số phần rồi trốn chạy. Tới địa phương này còn tự tìm được một thân xác tương đồng mà dung nạp vào.
Tới đây thì lão phù thuỷ chỉ âm thầm cười mỉm một cái vô cùng thâm hiểm, trong lòng lúc này đã có bao toan tính mới. Lão nhanh chân tiến lại chỗ quan lớn, vội thốt lời:
– Dạ.. Bẩm chúa công!.. Lão đạo đây xin chúc mừng chúa công.. Nhờ hồng phúc tổ tiên mà vong linh cậu chủ đã hoàn dương sống lại, hiện đang ngụ trong thân xác tên ăn mày này. Linh hồn thì đã có thể quay lại nhưng thần trí hiện vẫn đang bị phong bế nên không thể nhớ gì và cũng không nhận ra bất kỳ ai. Tuy nhiên vấn đề này cũng không đáng ngại lắm, chỉ cần lão phu ra tay tất sẽ thành công trả về cho chúa công một thiếu chủ bằng xương bằng thịt hoàn toàn nguyên vẹn.
Vừa nghe thầy phù thuỷ nói có thể mang được cậu quý tử con mình trở về từ cõi chết, thì ngay lập tức quan tuần phủ đã không còn giữ nổi bình tĩnh nữa, quan lớn sung sướng hét ầm lên:
– Ối giời ạ.. thật vậy sao? Nếu quả thực là vậy thì còn gì tốt bằng.. Thật đúng là ông trời có mắt, vợ chồng ta cả đời xin được cung phụng cảm tạ quân sư ngài giống như thần phật vậy.
– Cầu.. cầu xin quân sư gia ân.. xin ngài làm phúc thi pháp một lần, hãy mang Tử Hiến về đây cho vợ chồng ta..
– Hầy à.. chuyện này tất nhiên là chức phận của bần đạo, cho dù thế nào thì lão đây cũng sẽ lo liệu giúp cho chúa công.
Chỉ là có điều..
– Sao.. sao vậy quân sư? Có điều chi quân sư xin cứ nói thẳng, quân sư ngài đâu phải chỗ người ngoài.
– Bẩm chúa công!.. Để tiểu chủ có thể hoàn toàn khai mở linh trí, điều cần thiết nhất lúc này chính là được sưởi ấm bằng tình thương người mẹ. Và tuyệt đối trong bẩy bẩy bốn chín ngày tới, không nên để tiểu chủ di chuyển qua những địa phương khác. Thời gian này lão phu cũng xin nguyện lưu lại lập đàn hộ pháp cho tiểu chủ, chúa công ngài cứ yên tâm gánh vác trọng trách công vụ mà tiếp tục lên đường.
Quả nhiên quan tuần phủ khi nghe được những lời trần tình ấy từ tay phù thuỷ tâm phúc, ngài lập tức tin ngay mà không ngờ được rằng bản thân mình đã giao trứng cho ác. Việc công vụ trên người không thể chậm trễ, quan tuần phủ liền tức tốc đốc thúc quân binh vội vã lên đường, phó thác lại vợ con cùng cấp cho phù thuỷ một món tiền rất vàng lớn để lão ta xử trí mọi chuyện giúp mình.
Ngay sau ngày đoàn quan quân rời khỏi, lập tức phù thuỷ họ Tào liền cho dựng lên một đàn tràng cao lớn bên cạnh gốc Đa, xung quanh bên ngoài còn được cho người che chắn bảo vệ rất kỹ, cấm tuyệt người làng không ai được bén mảng tới gần. Cũng trong đêm đó lão cho người âm thầm trở về cố quốc, ngấm ngầm thông đồng với toán cướp Lâu Lan khét tiếng đón đường mai phục giết chết quan tuần phủ, cướp lấy toàn bộ tài vật triều cống. Đồng thời trên đất Việt lão cũng ra tay sát hại luôn quan bà một cách dã man, dùng luôn phần máu huyết đó tế luyện trên thân thể gã ăn mày tội nghiệp. Quá trình huyết luyện này được lão phù thuỷ dày công thực hiện liên tiếp trong nhiều ngày liền. Phù thuỷ dựa vào cuốn bí pháp cổ tịch, mong rằng theo phương pháp ma đạo có thể thuận lợi đại thành “đoạt xá”. Đầu tiên lão xuất thần rồi nhanh chóng nhập vào thân thể của tên ăn mày, lại ỉ vào nguyên thần cường hãn của bản thân cứ thế cắn nuốt thần hồn vật chủ. Đợi đến lúc thần hồn ấy yếu nhược sẽ lập tức đánh bật ra và hoàn toàn chiếm lấy thân xác ấy. Sau cùng lại sử dụng bí pháp đặc biệt luyện chế phần hồn phách suy nhược nọ thành một ma đầu mạnh mẽ, về sau có thể sai sử được rất nhiều việc lớn. Thế nhưng mọi chuyện tưởng chừng đã sắp thành công mỹ mãn thì đột nhiên phát sinh biến cố, hồn phách của quan bà vì tình thương yêu thiêng liêng mẫu tử đã khai mở linh thức tự bộc phát ra nguồn sức mạnh vô cùng khủng khiếp, một chiêu phản phệ trực tiếp tiêu diệt nguyên thần phù thuỷ tiễn luôn lão ta về với đất mẹ.
Rồi không rõ là thời gian đã trôi qua trong bao lâu, chỉ biết rằng vài ngày sau đấy dân làng bỗng ngửi thấy mùi vị thối khắm đến lượm giọng bốc ra từ trong tế đàn ấy. Một hồi họ hò nhau đánh liều phá cửa mà vào, giữa cái cảnh tranh tối tranh sáng bên trong tế đàn, dân làng với những kẻ có mặt tại hiện trường đã phải một phen sợ hãi đến kinh hồn bạt vía. Vương vãi khắp sàn tế đàn là vô số những phần thân thể máu me be bét bị cắt rời ra thành nhiều mảnh, dựng cuối căn phòng là chiếc giường gỗ “Hắc Tử Kỳ Đàn”, nằm ngay ngắn trên đó lại là xác một lão già râu tóc bạc trắng, khuôn mặt bấy giờ cũng đã biến dạng gần hết. Từ sâu trong hai hốc mắt của cái xác ấy, giòi bọ đang không ngừng bò ra bò vào lúc nhúc nhìn mà phát kinh. Sau đấy lại có người yếu bóng vía bỗng hét lên kinh hoảng rồi hùa nhau mà vùng bỏ chạy, bởi từ nơi vũng bầy nhầy thối khắm khi nẫy tự lúc nào lồm cồm bò dậy một thân ảnh gầy gò xanh lét, kẻ này không ai khác lại chính là thằng ăn mày khờ khạo ngày ngày vẫn ngụ tại gốc Đa.
Sau ngày hôm ấy thằng ăn mày chả ai buồn bắt vè ngó ngàng đến nó nữa, cứ hễ thấy nó lại gần là mọi người ai nấy đều cố tránh né lánh đi cho xa, họ sợ rằng tai bay vạ gió bao điều đen đủi từ nó sẽ vạ sang. Thằng nhóc tuy khờ khạo là vậy nhưng hình như nó cũng dần ý thức linh tính được rằng, người làng đã chán ghét mà xa lánh không giống như hồi nó mới về làng nữa. Dần dà thằng ăn mày cũng dần lánh xa khu chợ, nó mò ra phía bờ đầm rồi lầm lũi vạ vật một mình mò cua bắt ốc ở luôn ngoài đó.
* * *
Thời gian cứ vậy dần trôi, thằng ăn mày khờ khạo ngày nào giờ cũng trưởng thành cao to lực lưỡng. Chẳng những thế, tự khi nào nó còn có thể khai mở tâm thức, dần khôn ngoan hiểu biết nhiều chuyện, lại nhớ ra rằng mình chính là Đặng Tử Hiến. Thế rồi những sự việc ấy xảy đến đã lâu khiến người làng cũng dần quên lãng, họ không còn kỳ thị xa lánh Hiến nữa, có kẻ tốt bụng còn hò nhau vào dựng lên cho nó một túp lều ngay chỗ bờ đầm.
Thực cũng ngẫu nhiên, cuối năm ấy tự dưng ở đâu mò về làng có thêm một con dở. Nó quẩn quanh lang thang suốt ngày đi khắp từ đầu chợ cho tới cuối chợ, đêm đến lại mò ra mé bờ đầm rồi ở lại bám dệt lấy Hiến, lâu dần thì cũng kết cặp kết đôi xoắn xuýt lấy nhau không rời. Duy chỉ có một điều vô cùng kỳ lạ, mặc dù bọn chúng đã ở với nhau lâu thế nhưng vẫn không có lấy một mụn con. Phải mãi cho đến lúc cuối đời, lúc lão Hiến già đi sắp lìa trần trút xuống hơi thở cuối cùng, lão mới nói ra toàn bộ chân tướng sự thật.
Hóa ra cả đời lão Hiến đã phải chịu đựng biết bao điều cơ cực, tưởng rằng sinh ra trong một gia đình quyền quý thì ắt sẽ được giàu sang phú quý, nào ngờ lại bị kẻ gian thi kế hãm hại. Thì ra sau cái ngày phù thuỷ Miêu Trạch thi kế bất thành còn bị phản phệ vong quật mất đi mạng sống, thần hồn của Hiến đã quá yếu nhược tuỳ thời lúc nào cũng có thể tiêu tán.
Còn nói về quan bà mẹ Hiến, từ lúc bị sát hại dã man hồn phách vẫn phẫn uất mà không khi nào nỡ rời xa con trai nửa bước. Sau đấy lại tìm mọi cách lẩn tránh luân hồi thiên đạo, mấy lần suýt bị đánh cho hình thần câu diệt. Giờ đây lại biết được con trai sắp lâm vào tuyệt lộ, thần hồn người làm mẹ đã không mảy may suy tính, lập tức nhập thể lấy ra toàn bộ đại lượng sức mạnh còn lại bao bọc ủ ấm nuôi dưỡng cho linh hồn của Hiến.
Sau đấy lại trải qua một khoảng thời gian dài nữa tiếp, biết rằng vào một ngày nọ Hiến đã tỉnh lại, thần trí cũng dần tỉnh táo hoàn toàn rồi nhớ ra tất cả. Chỉ đáng tiếc một điều, hồn phách quan bà mẹ của Hiến sau khi rời thể đã vô cùng suy yếu, liền từ đó vĩnh viễn mất đi thần trí, về sau biến thành một loài ma vô cùng đáng sợ, tên gọi “Ma Gianh”.
Tuy thần trí không còn, không thể nhớ ra mọi chuyện. Nhưng do nhiều năm liền nung nấu nuôi dưỡng lòng căm hận kẻ thù vô hạn đã khiến loài ma này trở nên ích kỷ mà thù dai lắm. Một khi bị trêu chọc hay có người vô ý xâm phạm tới, nó liền bám theo ngầm trả thù đến cùng, bất chấp mọi thủ đoạn khiến những nạn nhân mà chúng đeo đuổi chịu thua thiệt khổ sở đủ đường, thậm chí có khi còn nguy đến cả tính mạng.
Trở lại với câu chuyện cũ, năm mà con dở về làng rồi bám dệt lấy Hiến không rời nửa bước. Cuối cùng thì hai người bọn họ cũng kết đôi, hàng ngày mưu sinh kiếm sống cùng sưởi ấm lòng nhau tới mãi cuối đời. Cũng trong năm đó con dở vợ Hiến bỗng có tin vui, con dở vui một mà Hiến thì đã vui cho tới đến mười, biết bao dự định tốt đẹp đã được hắn vạch ra từ trước.
Thế nhưng âu cũng bởi cái nghiệp tiền định, rằng cả đời này Hiến phải chịu khổ rồi tuyệt tự tuyệt tôn. Vào một buổi chiều con dở vợ nhặt của Hiến đang lang thang thơ thẩn hái hoa bắt bướm mãi phía bên kia bờ đầm, bỗng ngay lúc ấy trời đổ cơn giông tố lớn lắm, gió lốc cùng mây đen ở đâu vần vũ kéo về nhanh đến không tưởng. Trời đất cứ thế đảo đổi nhanh đến độ không tưởng, người thường còn phải sợ huống hồ dở nào chịu nổi. Cứ vậy con dở sợ đến tái mặt, nó cuống cuồng vắt chân lên cổ mà chạy. Tới lúc chui vào được túp lều rách nát của hai vợ chồng bên bờ đầm, nhìn lại nó lúc này đã chả khác chi một con quỷ. Đầu tóc thì bù xù ướt bết rũ rượi như mớ rẻ nát, từ chân đến đầu bùn đất bẩn thỉu vương vãi lấm lem, tệ hại hơn nữa là từ nơi khe háng của ả đang không ngừng chan hòa chảy xuống hai dòng máu đỏ. Sau ngày hôm ấy con dở ốm liệt giường và cũng mất đi cái thai thứ nhất.
Bốn tháng sau con dở lại tiếp tục mang thai, lần này nó sinh nở thuận lợi được mẹ tròn con vuông. Thế nhưng đứa trẻ này khi mới vừa lọt lòng mẹ lại cực kỳ yếu ớt, miệng nó tắc nghẽn không sao khóc nấc lên lời, và cũng chỉ ngay trong hôm đó liền lại theo hầu ông bà tổ tiên về miền cực lạc. Biết bao sự việc lạ lùng cứ vậy xảy đến với vợ chồng Hiến, con dở cứ chửa rồi đẻ, đẻ rồi lại chết, cứ vậy em lặp đi lặp lại đến cả chục lần khiến thân xác nó ngày một héo mòn. Cho tới một đêm đông giá lạnh, sức nó không còn chịu đựng được thêm nữa liền cũng lăn ra mà chết. Từ khi ấy Hiến mất vợ, lại chả có lấy mụn con, cuộc sống của hắn theo đó mà lầm lì cô độc.
Thì ra con dở trong cái buổi chiều giông gió ngày ấy, lúc chạy loạn đã vô tình dẫm đạp lên tổ “Ma Gianh”, khiến đàn con nó thương nặng. Từ đó vợ chồng Hiến thành ra gây thù chuốc oán với chúng, bị loài này âm thầm bám theo trả thù liên tiếp, đến nỗi mất cả mạng sống.
Cho đến một ngày có vị đạo sĩ qua làng, đúng lúc dừng chân hóng mát nơi bờ đầm nhìn vào khu lều vịt của Hiến liền lắc đầu ngán ngẩm mà than rằng:
– Nghiệp quả!.. Thực đúng là nghiệp quả..