“…Ta nghĩ ở đây chẳng có thực hồn thú hay thực hồn sát, rõ ràng tất cả kim chỉ nam của Phong Tà bàn đều không có gì bất thường.”
“Nếu không có, thì chứng mất hồn của bảy người dân trong trấn từ đâu mà ra? Lý nào họ lại cùng mắc một loại bệnh lạ? Nhưng tại hạ chưa từng nghe nói về loại bệnh này!”
“Phong Tà bàn không chỉ ra nghĩa là chắc chắn không có gì sao? Nó chẳng qua chỉ là một thứ ước chừng phương hướng, không đủ chính xác, không thể tin tưởng tuyệt đối, biết đâu quanh đây có thứ gì đó gây cản trở hướng chỉ của kim thì sao.”
“Cũng không thèm nghĩ xem Phong Tà bàn do ai tạo ra, ta chưa từng nghe nói có thứ gì đủ sức gây nhiễu loạn hướng kim chỉ của nó.”
“Ngươi có ý gì hả, sao ta nghe ngươi nói cứ là lạ thế nào ấy? Đương nhiên ta biết Phong Tà bàn do Ngụy Anh tạo ra, nhưng đồ hắn chế ra đâu phải thập toàn thập mỹ, lẽ nào còn không cho phép người ta nghi ngờ?”
“Ta đâu có nói không cho ngươi nghi ngờ, càng không nói hắn làm gì cũng hoàn hảo, các hạ hà tất phải ngậm máu phun người!”
Thế là bọn họ bắt đầu lái sang tranh cãi chuyện khác, Ngụy Vô Tiện cười ha hả cưỡi con lừa hoa đi ngang qua. Không ngờ qua ngần ấy năm, hắn vẫn là một tượng đài sừng sững trong những trận đấu võ mồm của đám tu sĩ, nên mới có câu “gặp Ngụy ắt cãi”. Nếu bầu chọn một người danh tiếng tồn tại dai dẳng trong bách gia, thì còn ai trồng khoai đất này.
Công bằng mà nói, lời tu sĩ kia thật ra cũng không sai, Phong Tà bàn đang được sử dụng rộng rãi bây giờ là phiên bản đầu tiên hắn chế tạo, quả thực không đủ chính xác. Hắn vốn đang bắt tay vào cải tiến, ai ngờ chưa sửa xong hang ổ đã bị người ta đập rồi, cũng đành để mọi người tiếp tục ấm ức dùng phiên bản đầu tiên chưa đủ chính xác thôi.
Nói đi cũng phải nói lại, loại ma quỷ ăn máu thịt gặm xương cốt phần lớn là cấp thấp, ví như tẩu thi; chỉ có yêu thú cao cấp hoặc lệ quỷ cấp cao tương đối lịch sự tao nhã mới có năng lực hấp thụ tiêu hóa hồn phách. Hơn nữa lại còn một hơi ăn bảy hồn, chẳng trách ngần ấy gia tộc tụ tập ở đây. Nếu con mồi săn đêm không tầm thường, Phong Tà bàn cũng khó tránh có chút sơ suất.
Ngụy Vô Tiện ghìm dây cương, nhảy xuống khỏi lưng lừa, lấy quả táo treo trước mặt con lừa hoa suốt chặng đường xuống, đưa đến trước miệng nó: “Một miếng, chỉ một miếng thôi… Nè, một miếng của mày muốn nuốt chửng tay tao luôn rồi.”
Hắn gặm hai miếng ở bên kia quả táo, rồi nhét vào miệng lừa hoa, lại nghĩ bản thân sao lại suy bại đến nỗi chia nhau trái táo với một con lừa, thì sau lưng đột nhiên va phải một người. Ngoảnh đầu lại, hóa ra là một thiếu nữ, dù đụng vào hắn nhưng hoàn toàn chẳng nhìn hắn, đôi mắt vô hồn, gương mặt mỉm cười, nhìn chằm chằm về một hướng nào đó.
Ngụy Vô Tiện nhìn theo ánh mắt cô ta. Nơi đó là một ngọn núi đen ngòm, chính là núi Đại Phạn.
Bỗng dưng, thiếu nữ này bắt đầu múa may quay cuồng trước mặt hắn mà không hề có dấu hiệu báo trước.
Điệu múa này tư thế loạn xạ, giương nanh múa vuốt, Ngụy Vô Tiện đang xem một cách say sưa vui vẻ thì có người phụ nữ xách váy chạy đến, ôm lấy cô nàng gào khóc: “A Yên, chúng ta quay về đi, về đi mà!”
A Yên ra sức đẩy bà ra, nụ cười trên mặt từ đầu đến cuối vẫn không hề biến mất, mang theo nét từ ái làm người ta sởn gai ốc, tiếp tục vừa nhảy vừa múa. Người phụ nữ kia chỉ đành đuổi theo cô ta chạy khắp phố, vừa chạy vừa khóc tức tưởi. Người bán hàng rong bên cạnh nói: “Tạo nghiệt mà, A Yên nhà thợ rèn Trịnh lại chạy loạn rồi.”
“Mẹ con bé thật đáng thương. A Yên, chồng A Yên, còn cả chồng bà ấy nữa, chẳng ai được yên lành…”
Ngụy Vô Tiện dạo quanh khắp nơi, từ đôi ba câu trò chuyện của dòng người qua lại rải rác, hắn cũng hiểu sơ sơ về chuyện lạ xảy ra nơi này.
Trên núi Đại Phạn có một nghĩa địa cổ, đa số mộ phần tổ tiên của dân trong trấn Phật Cước đều nằm ở đó, đôi khi họ cũng đào một cái hố lập một bia gỗ cho những xác chết vô danh ở đây. Mấy tháng trước, có một đêm sấm vang chớp giật, mưa to gió lớn. Sau một đêm bị mưa rào gột rửa, nghĩa địa trên núi Đại Phạn bị sạt lở, rất nhiều ngôi mộ cổ bị hư hại, còn có mấy cỗ quan tài lộ ra khỏi đất, bị một tia sét đánh bay nắp, cả hòm lẫn xác đều bị sét đánh đen thui.
Dân cư ở trấn Phật Cước vô cùng bất an, đồng lòng cầu phúc, tu sửa những ngôi mộ cũ, cho rằng giải quyết thế là xong. Ai ngờ từ ấy trở đi, trấn Phật Cước bắt đầu xuất hiện người mất hồn.
Người đầu tiên là một kẻ lười biếng. Tên này khố rách áo ôn, ngày thường ăn chơi lêu lổng, bởi gã thích lên núi bắt chim chóc về chơi nên vào đêm mưa gió ấy gã vừa hay bị nhốt trên núi Đại Phạn, sợ đến chết khiếp, cũng may phúc lớn mạng lớn nên không sao. Lạ thay trở về chưa được vài ngày gã tự dưng lấy vợ, tổ chức hôn lễ rầm rộ, nói rằng từ nay về sau muốn hành thiện tích đức, yên ổn sống qua ngày.
Đêm tân hôn gã uống say bí tỉ, nằm vật ra giường rồi không dậy nổi nữa. Cô vợ mới cưới gọi gã không thưa, đẩy một cái mới phát hiện hai mắt chú rể trợn trừng, toàn thân lạnh ngắt, chỉ khác người chết ở một điểm là vẫn còn hơi thở. Cứ thế không ăn không uống nằm dài ra đó mấy ngày, rồi yên ổn xuống mồ luôn. Thương thay nàng dâu vừa mới lấy chồng đã phải ở góa.
Người thứ hai là A Yên nhà thợ rèn Trịnh. Cô gái trẻ vừa mới đính hôn, kết quả hôm sau vị hôn phu tương lai bị lang sói trên núi cắn chết khi đi săn thú. Sau khi hay tin, cô cũng có bệnh trạng giống kẻ lười biếng kia. May thay, qua một thời gian, chứng mất hồn của cô đã đỡ dần. Nhưng từ đó trở đi cô cũng trở nên điên điên khùng khùng, ngày nào cũng ra đường cười hi ha nhảy múa cho người ta xem.
Người thứ ba chính thợ rèn Trịnh, cha của A Yên. Từ đó đến nay đã có liên tiếp bảy người bị hại.
Ngụy Vô Tiện nghĩ bụng, chắc là thực hồn sát chứ không phải thực hồn thú.
Hai thứ này tuy chỉ lệch nhau một chữ, nhưng lại là hai khái niệm khác biệt hoàn toàn. Sát thuộc loại quỷ, còn thú là yêu thú. Dựa vào hiểu biết của hắn, có thể là núi lở làm sụp mộ cổ, sấm sét đánh bật nắp quan tài, thả con lão sát lâu năm đang an nghỉ trong đó ra. Rốt cuộc đúng hay sai thì phải cho hắn nhìn thử xem đó là dạng quan tài gì, có còn sót lại phong ấn hay không là được. Nhưng dân của trấn Phật Cước nhất định đã sớm chôn cỗ quan tài bị đánh cháy đó, thu dọn hài cốt chôn xuống đất một lần nữa rồi, tất nhiên vết tích cũng chẳng còn bao nhiêu.
Muốn lên núi phải men theo sơn đạo bắt đầu từ trấn, Ngụy Vô Tiện đạp con lừa chậm như rùa bò đi lên sườn núi. Đi một lúc, hắn thấy vài người đi thành hàng xuống núi với vẻ mặt ủ rũ.
Gương mặt những người qua đường này đượm mùi ngán ngẩm, miệng lưỡi thì liến thoắt. Sắc trời đã nhá nhem, thấy trước mặt thình lình xuất hiện một tên cưỡi lừa trang điểm như con quỷ chết treo, ai nấy đều hết hồn, chửi một tiếng rồi lách khỏi hắn vội vàng chạy xuống dốc núi. Ngụy Vô Tiện ngoảnh đầu thầm nghĩ, không lẽ họ gặp phải con mồi khó chơi, thất bại thảm hại quay về? Ngẫm nghĩ một lúc, rồi vỗ vỗ mông em lừa, chầm chậm tiến lên núi.
Hắn vừa vặn bỏ lỡ mất câu oán thán vang trời kế tiếp của đám người kia:
“Đời ta chưa gặp ai ngang ngược đến thế mà!”
“Gia chủ của một gia tộc lớn nhường ấy, mà còn đến đây giành một con thực hồn sát với chúng ta hả? Hồi trẻ không biết hắn đã giết bao nhiêu con rồi!”
“Biết làm sao được, ai bảo người ta là tông chủ. Đắc tội nhà nào chứ đừng đắc tội Giang gia, đắc tội ai cũng đừng đắc tội Giang Trừng. Thu dọn đồ đạc đi, xem như gặp xui xẻo vậy!”