“Vâng ạ! Thôi thái thú không hổ là xuất thân từ danh môn thế gia, thanh liêm chính trực, hơn nữa cực kỳ thấu hiểu dân chúng, mỗi đợt tết thanh minh, trung nguyên và lạp bát, hắn cũng đều đích thân đi thăm mẹ góa con côi, nghe nói mười mấy năm qua năm nào cũng như thế, những châu huyện mà hắn nhiệm kỳ qua, ở dưới sự quản hạt của hắn nhân dân đều an khang, những năm đại thiên tai cũng có thểan cư lạc nghiệp, mọi người nhắc tới Thôi thái thú, không ai không chân thành tán dương hắn cả.”
“Vậy sao? Ngươi nói đến ta cũng có hung trí rồi, ta thật muốn xem một chút vị Thôi thái thú này.” Lý Khánh An lãnh đạm nói.
Kỳ Vương điền trang nằm ở phía bắc của Quắc huyện, ven kênh Thăng Nguyên, là một mảnh đất đai ruộng điền vô cùng phì nhiêu, điền trang mênh mông vô bờ, tổng công có hơn năm ngàn ba trăm khoành, do mười mấy thôn trang lân cân, mấy ngàn hộ tá điền thay hắn trồng trọt, còn có gần ngàn hộ nông nô, đây là đất đai mà Kỳ Vương dùng mười năm trời chiếm dụng mà có được. Kỳ Vương sớm đã chết đi nhiều năm, do mấy người con trai của hắn đem đất đai chia cắt ra, nhưng đối với bên ngoài vẫn gọi chung là Kỳ Vương điền trang.
Sau khi Lý Dự lên ngôi, liền dấy lên một đợt phong ba nhằm vào ruộng điền của quyền quý tôn thất. Kỳ Vương điền trang cũng không thể may mắn thoát khỏi, đợt thứ hai liền bị Lý Dự tịch thu làm của quan, mấy người con trai của Kỳ Vương cũng bởi vậy mà trốn sang thành đô, trở thành kẻ ủng hộ phê phản Bắc Đường.
Đất đai rất sớm đã bị tịch thu đi rồi, nhưng việc phân điền lại gặp nhiều trở ngại, sau khi Lý Dự qua đời, công việc phân điền liền rơi vào tạm dừng, sau khi chính sự đường vừa mới thông qua lệnh phân điền không lâu, chủ quản phân điền Lý Nghiên liền bị ám sát, khiến cho việc phân điền rơi vào tạm dừng, sau đó lại là lúc Lý Hanh cưỡng chế đăng cơ, không những không phân điền, còn muốn đem những đất đai đã phân chia thu hồi lại, tương lai sẽ trà lại cho chủ nhân gốc của nó, cho đến khi Lý Hanh đào tâu khói thành đô, sau khi Lý Khánh An xây dựng lại chính sự đường, việc phân điền mới lại một lần nữa được đề lên nhật trình, đầu tiên là hoàng trang ở VỊ Nam huyện được phân chia, đó là một sự kiện như một tiêu chí, dưới sự dẫn đường của nó, các nơi ở Quan Trung cũng đều dấy lên phong trào chia ruộng đất.
Kỳ Vương điền trang cũng là một trong những trọng điểm phân điền, dựa theo nguyên tấc quyền sở hữu, năm ngàn ba trăm khoành đất đai của Kỳ Vương điền trang hãn phải do hơn ba ngàn bốn trăm hộ tá điền và một ngàn hai trăm hộ nông nô chia ra. Những người có tâm lập tức tính ra, nói như vậy, bình quân mồi hộ sẽ được hơn một khoánh đất đai, điều này quả thật khiến những hộ nông dân ở địa phương mừng như điên.
Cho dù trong lệnh chia đều ruộng đất thời sơ Đường, con trai được trăm mẫu ruộng, nhưng trên thực tế đó chẳng qua chỉ là một cái hạn ngạch thôi, bình quân mỗi hộ có thể có được hai mươi mẫu ruộng cũng đã rất khá rồi, cho nên lúc tin tức Kỳ Vương điền trang phân chia ruộng được truyền ra, toàn bộ các hộ nông dân ở phía bắc kênh Thăng Nguyên cũng đều sôi sục hẳn.
Nhưng trớ trêu là việc tốt thường gian nan, đột nhiên lại truyền ra tin tức, năm ngàn di dân Hà Bắc Tương Châu cũng sẽ được an trí ở phía bắc kênh Thăng Nguyên, điều này quả thật là một tin sét đánh, khiến cho các hộ nông dân địa phương sợ ngây người, mất mác, phẫn nộ, thất vọng đau khổ, nông hộ địa phương kiên quyết cự tuyệt di dân Hà Bắc đến đó, họ tự phát tổ chức võ trang nổi dậy để bảo vệ ruộng đồng nhà cửa của mình.
Kỳ Châu thái thú Thôi Ninh bèn chính là ở vào thời điểm cục diện nguy hiểm đó đơn thân vào thôn trang, cùng thôn dân đàm phán ba ngày ba đêm, cuối cùng thuyết phục thôn dân, phân chia một nửa ruộng điền cho di dân Hà Bắc, đồng thời tiếp nhận bọn họ ở kênh Thăng Nguyên an cư.
Lý do của Thôi Ninh rất đơn giản, quan phủ cho tới bây giờ vẫn vốn không có chính thức có văn kiện rằng đem toàn bộ Kỳ Vương điền trang phân chia cho nông dân, cái gọi là phân điền cũng chỉ là lời đồn đãi kháo nhau của nông hộ mà thôi. Kỳ Vương điền trang sẽ chia thành hai, trong đó hai ngàn ba trăm khoành dùng làm phân điền, còn ba ngàn khoành dùng làm quan giải điền, lần này dùng cho việc an trí năm ngàn hộ di dân Hà Bắc chính là quan giải điền, không hề liên quan đến nông hộ địa phương.
Nhưng để đền bù lại. Thôi Ninh cũng hứa hẹn, nếu sau khi thế cục Hà Bắc ổn định rồi, nhất định sẽ có không ít di dân Hà Bắc hồi hương, đến lúc đó đất đai sau khi di dân hồi hương rời khỏi thì quan phủ sẽ không thu hồi lại nữa, sẽ đem phân chia cho nông hộ địa phương, nếu nông hộ địa phương không tiếp nhận phương án này, quan phủ sẽ không còn phân chia vô điều kiện Kỳ Vương điền trang nữa, mà là dùng phương pháp thu mua lại, do chủ nhân ban đầu bỏ ra số tiền bán ruộng ban đầu mà lấy đó mua lại đất đai đó về.
Chính dưới sự cường bức dụ dỗ vừa đấm vừa xoa này của Thôi Ninh, hương đảng địa phương cuối cùng đã đón nhận phương án của Thôi Ninh, đồng ý di dân Hà Bắc tham dự phân điền.
Cuối tháng chín, đợt di dân hai nghìn hộ Hà Bắc đầu tiên đã đi đến Quắc huyện, bọn họ là di dân đến từ Hà Bắc Tương Châu.
Thăng Nguyên Cừ (*Cừ: kênh đào) là một con kênh đào tưới tiêu ở phía bắc Vị Hà, gần như xuyên ngang hết cả Quắc huyện, dài khoảng trăm dặm, ở hai bờ Thăng Nguyên Cừ phân bố mấy vạn khoảnh lương điền, là khu sản lượng quan trọng của Quắc huyện thậm chí của Kỳ Châu.
Trời vẫn còn chưa sáng hết, trên đồng ruộng phủ lên một lớp sương mù như sữa bò, trong không khí mang theo một chút hơi lạnh. Thăng Nguyên Cừ là một con kênh đào rộng khoảng năm trượng, từ sông Vị Hà dẫn nước, lượng nước dồi dào, tưới tiêu mấy vạn khoảnh lương điền ở hai bờ. Thẳng Nguyên Cừ lúc này cũng tràn ngập trong một lớp sương dày mờ ảo, trong hơi sương, một đội kỵ binh phóng nhanh tới, khoảng hơn ba trăm người, người đứng đầu chính là Lý Khánh An, phía sau đi theo ba trăm thân binh của hắn, Lý Khánh An tuy rằng đã dẫn theo ba nghìn kỵ binh, nhưng hắn sợ nhiều dân, nên đã bảo kỵ binh trú đóng ở một tòa quân doanh ở ngoài xa mười mấy dặm, bản thân hắn chỉ mang theo ba trăm kỵ binh, chỉ cần có thể thay hắn đưa tin là được.
Một dòng người của bọn họ xông lên một tòa cầu gỗ, phi đi phía bờ đối diện Thăng Nguyên Cừ, không lâu sau, một dòng người bèn đi đến trước một con kênh đào, con kênh đào này vô cùng quan trọng, mắt thấy đang đào bới, phía nam là một dòng sông nhỏ, gọi là Phan Nam Hà, sau khi con kênh đào này khai thông, đã đem Phan Nam Hà và Thẳng Nguyên Cừ liên kết lại với nhau, không chi như vậy, con kênh đào này còn đem đất đai của di dân Hà Bắc và nông hộ địa phương chia ranh giới, về phía đông là đất đai của người bản địa, về phía tây là đất đai của di dân Hà Bắc.
Do trời vừa mới sáng, hai bên kênh đào vẫn rất im ắng, không có một ai, kênh đào do di dân phụ trách đào khoét, bây giờ vẫn còn chưa thi công, ruộng lúa hai bên đều đã thu hoạch xong, bên trên đã phủ đầy bụi rơm, đây là phân bón rất tốt.
“Đại tướng quân, nghỉ ngơi một chút đi!”
Một viên thân binh đem hồ lô nước đưa cho Lý Khánh An, Lý Khánh An đón lấy hồ lô nốc một ngụm nước, lúc này, hắn thấy ở nơi không xa đang bốc một làn khói trắng cuồn cuồn, bèn giục ngựa nói: “Đi! Đi xem xem.”
Một dòng người phi nhanh trong chốc lát, bèn đã đến được nơi bốc khói trắng đặc, chỉ thấy nơi tiện đạo bên cạnh Thăng Nguyên Cừ, mấy hộ nông dân đang đốt rơm, từ trang phục của bọn họ, vừa nhìn đã có thé nhìn ra là di dân từ Hà Bắc đến, mấy nông dân này cũng nghe thấy tiếng vó ngựa, đều quay đầu ngơ ngác nhìn vào kỵ binh xuất hiện từ trong hơi sương, trong mắt lộ ra vẻ sợ hãi, trong đó ba nữ nhân lại càng sợ sệt mà núp phía sau lưng trượng phu.
Thấy mấy nông dân muốn chạy, một thân binh bèn xuống ngựa chạy lên nói: “Các ngươi đừng sợ, sẽ không làm hại các ngươi.”
Có lẽ là cảm thấy minh có chạy thế nào cũng chạy không lại ngựa có bốn chân, mấy nông dân đều từ bỏ ý niệm bỏ chạy, đi về phía vệ đường, nhường lối đi ra.
Lý Khánh An cũng xoay người xuống ngựa, đi lên trước, quan sát bọn họ một chút, bèn cười nói: “Các ngươi đều là di dân Hà Bắc ư?”
Một nam tử ba mươi mấy tuổi gật gật đầu: “Hồi bầm tướng quân, chúng tôi ai cũng thế.”
“ừm! Vậy trong số các ngươi có giáp trường không?”
Lần di dân Hà Bắc này có khoảng bốn mươi mấy vạn hộ, quy mô to lớn, bởi vì sau khi xảy ra chuyện ở Tỉnh Hình quan, triều đình bèn đã sử dụng kiến nghị của Lý Khánh An, đối với di dân Hà Bắc thực hiện dân đoàn bảo giáp pháp, cũng chính là thực hiện việc quản lý bán quân sự hóa, trăm hộ làm một bảo, thiết lập một viên bảo chính; mười hộ làm một giáp, thiết lập một viên giáp trường, có thể do tự bản thân họ tuyển cử, mỗi hộ phát cho một thanh đao hoặc là một bộ cung tiền, nam chủ nhân phải tiến hành huấn luyện quân sự định kỳ, để tăng cường năng lực tự vệ.
Lý Khánh An thấy đám nông dân đốt rơm rạ này ít nhất cũng có năm sáu hộ gia đình, hắn bèn phòng đoán trong đó có thể có giáp trường, quả nhiên, người nam tử ba mươi mấy tuổi ban nãy tiến lên khom người nói: “Hồi bầm tướng quân, ta chính là giáp trưởng.”
Lý Khánh An lại hỏi: “Ngươi là người ở đâu, tên gọi là gì?”
Giáp trường chỉ vào mấy hộ nông dân bên cạnh: “Chúng tôi đều là người thông Cao Kiều huyện An Dương Tương Châu, tại hạ tên Cao Phú Quý.”
“ừm! Tên gọi này đặt không tồi.”
Lý Khánh An cười xòa nói: “Mọi người ngồi xuống nói chuyện đi!”
Mọi người thấy Lý Khánh An thân thiện, kỵ binh của hắn đều ở ngoài xa mấy chục bước, mối hoảng sợ trong lòng bèn từ từ biến mất, hai viên thân binh chạy trở về cầm lấy mười mấy chiếc ghế Hồ, Lý Khánh An đem ghế Hồ đưa cho bọn họ: “Mọi người ngồi tùy ý, không cần câu thúc.”
Các nông dân đón lấy ghế Hồ, có người thấy ghế Hồ làm thật tinh xảo, tỉ mỉ xem một hồi lâu mới từ từ ngồi xuống, lúc này, Lý Khánh An mỉm cười nói với mọi người: “Ta tự giới thiệu một chút, ta họ Lý, là tướng quân của quân An Tây, vừa từ Trường An đến, mà lần đại di dân Hồ Bắc lần này chính là kiến nghị của ta, ta luôn muốn tìm hiểu tình hình của việc di dân, vừa lúc gặp được các ngươi, mọi người đều nói một chút đi! Nó thoải mái, kẻ nói không có tội.”
Mọi người nghe nói đại di dân Hà Bắc lại là kiến nghị của hắn, đều không khỏi trở nghiêm trang kính cẩn, điều này chửng tò quan chức của người này không thấp. Cao Phú Quý lại càng có chút bất an rồi, dè dặt nói: “Tướng quân muốn bọn ta nói một chút về điều gì vậy?”
Lý Khánh An thấy người này khá là thật thà, không khỏi có chút cảm tình với hắn, bèn cười nói: “Vậy đế ta hỏi trước vậy! Các ngươi đối với việc di dân lần này có hối hận không?”
Mọi người cùng lắc đầu, miệng mồm liếng thoắn đua chen nói: “Làm sao mà hối hận chứ? Thích thú còn không kịp nữa là… Đây là Quan Trung a!”
“Đẻ ta nói vậy!”
Cao Phú Quý có chút ngại ngùng nói: “Nhà ta ba huynh đệ cùng nhau đăng ký di dời, vốn dĩ bọn ta là ghi danh Quan Nội đạo, nhưng vận may bọn ta khá tốt, lúc sắp đến Nguyên Châu thì quan phủ đột nhiên thông báo bọn ta, bọn ta sửa lại dời đến Quan Trung Kỳ Châu, mọi người ai cũng vui đến phát điên, hơn nữa đến được Kỳ Châu, mỗi hộ còn cho bốn mươi mẫu thượng điền..
“Đợi đã!”
Lý Khánh An đột nhiên cảm thấy có chút không đúng, hắn kỳ lạ hỏi: “Ta nhớ là mỗi hộ ba mươi mẫu a! Tại sao lại trở thành bốn mươi mẫu rồi?”
“Cái này…”
Mấy người nông dân nhìn mặt nhau. Cao Phú Quý nói: “Trên công cáo nói mỗi hộ còn cho một con trâu, nhưng trâu cày của Quan Trung cũng không đủ, vì vậy nên mỗi hộ cho thêm mười mẫu đất, để thay cho trâu cày.”
Lý Khánh An gật gật đầu, một con trâu đổi mười mẫu thượng, điều này quả là rất đáng a! Nhưng mà trâu là có, năm sau vào đầu xuân, sẽ từ Hà Tây điều ba mươi vạn con trâu đến Trung Nguyên, đến lúc đó các nhà di dân trên cơ bản mỗi hộ đều sẽ có một con trâu, nhưng Lý Khánh An không nói rõ ra, bèn lại cười nói: “Vậy lương thực đâu? Thu hoạch vụ thu vừa mới kết thúc, lương thu có phần các ngươi không?”
“Quan phủ định ra là mỗi hộ mỗi tháng năm đấu gạo, một cân muối, nếu nhà đông người không đủ, hoặc là tự minh moi tiền ra mua, hoặc là chia nhà lập hộ mới, còn có một cách khác chính là tham gia quân huấn dân đoàn, hoặc là mùa đông đi tham gia xây đắp thùy lợi, lúc đó lương gạo sẽ do nhà nước ra, trong nhà có thể tiết kiệm được một phần lương thực.”
Nói tóm lại, Lý Khánh An vẫn là khá tán đồng cách làm của Thôi Ninh, từ suốt dọc đường những gì hắn nghe thấy nhìn thấy, đều cảm thấy tên Thôi thái thú này khá không tồi, hắn quả thật rất muốn gặp một lần người này.
Đúng lúc này, xa xa truyền đến một tiếng vó ngựa, chỉ thấy năm sáu người cưỡi ngựa hướng bên này mà đến. Cao Phú Quý liền đứng lên nói: “Đó là Thôi thái thú, người đã tới rồi!”