“Tại sao? Ngài còn hỏi tại sao ư? Ha ha. Hai bên đều muốn hoà bình vậy dựa vào cái gì chúng ta phải trả tiền cống hàng năm để đổi lấy hoàn bình? Có phải các ngài nghĩ rằng chúng ta sợ các ngài sao?”
Nguy Mã bình tĩnh hỏi: “Tể Chấp đại nhân. Thế này đi, chúng ta hãy cùng thống nhất một số điều kiện. Lúc trước chúng ta đã nhất trí quý quốc đống ý xuất binh giúp Hoàg đế tại hạ giành lại Hoàng quyền. Hai bên sẽ kết nghĩa huynh đệ, vĩnh viễn không giao chiến với nhau”.
“Ngưng chiến duy trì hòa bình là nguyện vọng của hai bên, không thể dùng làm điều kiện trao đổi”.
Nguy Mã gượng cười nói: “Được, tại hạ đồng ý với điều kiện của Tế Chấp đại nhân, hai bên đạt được kết quả cuối cùng. Chúng ta sẽ trả lại quý quốc bốn vạn tù binh, đổi lại quý quốc trả lại Trại Bảo ở nam Lan Châu và Hoành Sơn đã xâm chiếm của chúng ta. Điều kiện này có được không?’
Đỗ Văn Hạo lắc đầu nói: “Không được. Tù binh phải phóng thích không điều kiện. Nếu hai bên đã kết huynh đệ, không thể giam giữ bất kỳ ai. Đương nhiên đây chính là kết quả của việc kết huynh đệ. Các ngài đương nhiên phải trả lại chúng ta bốn vạn tù binh vô điều kiện”.
Nguy Mã cười gượng nói: “Từ xưa tới nay không có chuyện trao trả tù binh vô điều kiện”.
“Đến thời ta thì có” Đỗ Văn Hạo lạnh lùng nói: “Ngược lại nếu như chúng ta bắt được tù binh của các ngài. Tơi khi hai bên kết huynh đệ xong, chúng ta cũng sẽ thả tù binh của các ngài vô điều kiện”.
“Tể Chấp đại nhân, trong tác chiến trước kia của quý quốc với Tây Hạ chúng ta chưa từng có chuyện thả tù binh vô điều kiện”.
Đỗ Văn Hạo nói: “Vậy thì ta sẽ cho người thống kê số tù binh của các ngài bị chúng ta bắt được, hai bên sẽ tiến hành trao đổi”.
“Thế nhưng hình như chúng ta bắt được tù binh nhiều hơn quý quốc, như vậy chúng ta thiệt thòi rất nhiều”.
“Thiệt thòi gì mà thiệt thòi? Một khi hai bên đã bãi binh, tù binh phải được thả ra vô điều kiện. Đây không phải là cuộc mua bán mà phải mặc cả”.
Quả thực Nguy Mã dở khóc dở cười. Ông ta phát hiện ra muốn thuyết phục Đỗ Văn Hạo về điều kiện phóng thích tù binh rất khó khăn trong khi đó luc snày ông ta muốn nhanh chóng đạt được hiệp định kết đồng minh. Vấn đề tù binh không thoả thuận được, chỉ có thể dùng biện pháp khác. Nguy Mã nói: “Vậy vấn đề này chúng ta không nói nữa. Chúng ta hãy đàm phán vấn đề khác…”.
“Không” Đỗ Văn Hạo thản nhiên nói: “Nếu muốn kết huynh đệ, nhất định phải trả lại tù binh vô điều kiện. Nếu không coi như chúng ta chưa từng thương lượng bất kỳ điều gì”.
Rốt cuộc Nguy Mã cũng xa sầm mặt: “Nếu đại nhân đã nói như vậy khi hai bên đã ký kết đồng minh, quý quốc có trả lại phần lãnh thổ của chúng ta đã bị quý quốc chiếm hay không?”
Đỗ Văn Hạo liền nhớ tới lúc Trung Quốc và Liên Xô ký kết đồng minh. Lúc ấy Liên Xô cho rằng Trung Quốc phải dựa vào mình nên không chịu trả lại Trung Quốc phần lãnh thổ của Trung Quốc bị Sa Hoàng chiếm đoạt trước đó. Cuối cùng hai bên vẫn lý kết đồng minh nhưng Liên Xô nhất định không trả lại phần lãnh thổ đã chiếm trước đây. Bây giờ hắn quyết định cũng dựa theo cách làm của thế mạnh như vậy vì đối phương là người cầu cứu mình.
Đỗ Văn Hạo cười nhạt nói: “Đât đai không giống như người. Đất đai người nào chiếm thì là của người đó. Tù binh trong chiến tranh bị các ngài bắt giữ là tướng sĩ của Đại Tống vậy nhất định phải trả lại cho quân ta”.
“Tể Chấp đại nhân nói vậy không phải cưỡng từ đoạt lý sao?”
“Cưỡng từ đoạt lý sao? Ha ha, ta muốn hỏi Nguy đại nhân mấy vấn đề, được không?”
“Xin mời Tể Chấp đại nhân”.
“Xin hỏi Tây Hạ các ngài lập quốc khi nào?”
“Cảnh Tông Hoàng đế lên ngôi năm Hiển Đạo, cũng là năm Bảo Nguyên của Đại Tống”.
“Vậy ta xin hỏi trước đây Tây Hạ là đất đai của ai?”
“Lý thị Đảng Hạng”.
“Bọn họ tiếp nhận sắc phong của ai?’
“Đại Liêu và Đại Tống”.
Đỗ Văn Hạo vỗ đùi nói: “Hay. Lại nói tiếp đất đai của cả Tây Hạ các ngài là của Đại Tống, vậy có cần phải trả lại không?”
“Điều này không đúng. Khi ấy Đảng Hạng chỉ kết đồng minh với Đại Tống, tiếp nhận sắc phong mà thôi. Đại Tống không quản lý Tây Hạ”.
Đỗ Văn Hạo cũng không biết nhiều lắm về thời kỳ lịch sử này nên cũng không biết ông ta nói có phải sự thật hay không vì vậy hắn tiếp tục vòng vo: “Thử hỏi chẳng lẽ từ khi Tây Hạ các ngài lập nước tới nay có từng chiếm đất của Đại Tống không? Đã từng xâm chiếm lãnh thổ của người khác chưa?”
Nguy Mã thoáng sửng sốt. Tây Hạ đã từng động binh đao với người Hồi Hột và chiếm một phần lớn lãnh thổ. Khi xảy ra chiến tranh với Đại Tống cũng đã từng chiếm đất đai của Đại Tống và cũng bị Đại Tống chiếm đất đai. Thật ra trong lãnh thổ của hai bên đều có phần đất chiếm lãnh của đối phương. Điều này là không thể tránh khỏi. Nếu như trong đàm phán bình thường nhất định ông ta sẽ chậm rãi quấy rối tranh cãi nhưng bây giờ ông ta có việc cầu người. Ông ta không thể làm thế chọc giận đối phương gây ra tác hại ngược lại.
Bây giờ ông ta muốn nhanh chóng liên kết đồng minh, lợi dụng lực lượng của Đại Tống đoạt lại Hoàng quyền. Đó chính là điều quan trọng nhất. Những lãnh thổ đã chiếm của đối phương cũng không muốn trả lại vậy càng không thể yêu cầu đối phương cắt trả lại đất đai. Nguy Mã cũng không muốn nhắc lại chuyện Đại Tống cắt bốn khu vực Gia Lô, Mễ Chi, Phù Đồ, An Cương nữa, ông ta hậm hực nói: “Điều này không phải là vấn đề thương thảo”.
“Đương nhiên là một vấn đề” Đỗ Văn Hạo thầm đắc ý nhưng sắc mặt hắn lại lộ ra vẻ tức giận: “Nguy đại nhân, đàm phán phải xuất phát từ thành tâm. Không thể nói với nhau bằng miệng, cần phải có hành động thực tiễn mới được. Không nên nói những điều không tồn tại. Hãy nói tới những điều thật sự. Điều kiện đối với hai bên phải công bằng”.
Nguy Mã thở dài nói: “Vậy theo như Nguy Mã đại nhân như thế nào mới gọi là điều kiện công bằng?”
Đỗ Văn Hạo cũng chẳng muốn vòng vo nữa. Hắn cũng hiểu bọn họ không chịu chấp nhận điều kiện thay đổi quân đội Tây Hạ nên nói: “Được. Ta thấy ngài là một người kiên quyết, nói thẳng thực. Bây giờ ta thay đổi điều kiện một chút. Các ngài chỉ cần đồng ý với mấy điều kiện này của chúng ta. Trong mấy điều kiện này, không thể sửa đổi bất kỳ điều kiện nào. Đồng ý thì đồng ý, không đồng ý thì thôi”.
“Được, xin mời Tế Chấp đại nhân cứ nói”.
Điều kiện để chúng ta xuất binh giết chết Lương Thái hậu, đoạt lại Hoàng quyền cho các ngài như sau. Thứ nhất, thả toàn bộ tù binh của chúng ta vô điều kiện. Thứ hai huỷ bỏ tiền tiến cống. Thứ ba từ bỏ xưng đế. Đại Tống chúng ta sắc phong làm Tây Hạ Vương. Tây Hạ vẫn do người Tây Hạ quản lý. Thứ tư phủ Tuyên Hoá, vùng đất phía nam Lương Châu cắt lại cho Đại Tống chúng ta”.
Nguy Mã nghe mấy điều kiện trước thì liên tục gật đầu sau khi nghe điều kiện cuối cùng thì thoáng sửng sốt, cười gượng nói: “Đại nhân nói thật hay nói giỡn vậy? Vùng đất đó là một trong những nơi trù phú nhất Tây Hạ, sao có thể cắt nhường lại đây? Những điều kiện khác đều dễ dàng nhưng điều kiện cuối này..ha ha rất khó tuân theo. Hay là đại nhân hãy đổi lại điều kiện khác đi nha”.
Đỗ Văn Hạo đứng dậy nói: Ta đã nói rồi. Mấy điều kiện này không thể sửa lại bất kỳ điều kiện nào. Đồng ý thì đồng ý, không đồng ý thì thôi. Các ngài không chịu cắt vùng đất này cho chúng ta, vậy cũng không sao. Dù sao sau này quân đội Đại Tống chúng ta cũng đoạt lại mấy vùng đất này. Các ngài không tin thì cứ chờ xem. Cáo từ!”.
“Đại nhân! Có chuyện gì hãy từ từ thương lượng”.
Đỗ Văn Hạo đã nghĩ rất kỹ. Đây chính là cơ hội ngàn năm một thuở để đoạt lấy trường nuôi ngựa Sơn Đan. Hắn muốn thành lập một đội quân kỵ binh thì nhất định phải trông cậy vào trường nuôi ngựa lớn thứ hai thế giới này. Điều kiện này nhất định không thể buông tha cho dù có thể buông tha hai điều kiện đầu tiên cũng được. Huống chi ba điều kiện đầu bọn họ đã đồng ý, chỉ coi như là điều kiện phụ vào vì vậy Đỗ Văn Hạo không muốn bàn tiếp, hắn không để ý tới Nguy Mã, quay lưng rời đi.
Thái Kinh vội vàng đuổi theo. Hắn cũng không dám nói lung tung điều gì, chỉ tiễn chân Đỗ Văn Hạo ra cửa. Trước khi lên kiệu Đỗ Văn Hạo dặn dò Thái Kinh chăm sóc vị sứ thần Tây Hạ này rồi lên kiệu về Ngũ Vị đường.