“Khúc Đình Lam! Ta đường đường là mệnh quan triều đình, dĩ nhiên đến Chi Khê là vì…”
Nghe thấy những gì Khúc Mậu nói, Chương Đình phát cáu, hắn làm quan mấy năm chưa bao giờ làm biếng một khắc, từ lúc nào lại thành ra trốn việc?
Nhưng còn chưa dứt câu thì một cơn gió bỗng thổi qua, quét sạch tức giận trong lòng.
Đúng thế, rốt cuộc vì sao hắn phải tới Chi Khê?
Nếu hắn thật sự muốn chạy trốn rời xa mớ rắc rối này, thì hắn nên giả vờ như không biết gì, quay về Đông An, thậm chí đến núi Bách Dương chứ không phải chạy tới trung tâm vũng bùn.
Khúc Đình Lam nói không sai, lấy đâu ra lắm đen trắng đến vậy, đường mình đi, chuyện mình làm mới là chân thật.
Ngay từ khi hạ quyết tâm đến khu mỏ là hắn đã có phán đoán của riêng mình, đó là cơ sở để làm người cũng như làm quan, sẽ không dễ dàng bị lung lay bởi tranh chấp với phụ thân
Chương Đình ngồi xuống tảng đá, hai tay từ từ siết chặt thành quyền.
Có lẽ phụ thân nói đúng, trên đời này có rất nhiều chuyện không phân rõ thị phi trắng đen. Nhưng không phải không có tuyệt đối: Tay dính máu người vô tội ấy là mang tội nghiệt, nếu sự thật bị chôn vùi dưới khói bụi, vậy cần phải lôi nó ra, để nó phơi bày dưới ánh mặt trời.
Hắn biết Chi Khê đang cất giấu tội chứng, mục đích hắn tới Chi Khê chỉ có một, đấy là tìm ra tội chứng này, bất kể phải trả giá đắt nhường nào.
Còn về phần sau khi vạch rõ chân tướng, Tiển Khâm Đài là vạt áo tẩy trắng hay nấc thang lên mây xanh, hắn chỉ là kẻ khờ tư chất bình thường, chuyện cao siêu ấy để người hiền kẻ giỏi đi tìm hiểu.
Dưới núi vọng đến tiếng ngựa phi, đúng lúc cắt ngang cuộc cãi vã cả Khúc Mậu và Chương Đình. Vưu Thiệu nhìn xuống núi, thấy là binh mã mặc áo bào đen, lập tức nói: “Vệ đại nhân dẫn Huyền Ưng vệ đến rồi.”
Tham tướng và Đô giám của khu mỏ cũng trở lại, gia tướng thưa: “Bẩm Ngũ công tử, chúng tiểu nhân không tìm được hang động thông thoáng thoải mái, nghe Đô giám đại nhân nói ở gần kho lương đối diện có vài căn lán dựng tạm, hay là Ngũ công tử đến xem sao.”
Khúc Mậu đã nghỉ ngơi đầy đủ, tinh thần phấn chấn, lập tức nhảy lên lưng gia tướng, “Đi!”
***
Vệ Quyết xuống ngựa, giao ngựa cho binh lính đến tiếp ứng rồi rảo bước đi vào nha môn, chắp tay với Tạ Dung Dữ: “Bẩm Ngu hầu, thuộc hạ làm theo lệnh ngài, giữa đường đi vòng qua núi Bách Dương, đến lúc đó nếu đội ngũ của các quân nha tới, có thể Thiếu phu nhân và Nhạc tiền bối cần phải tránh mặt.”
Tạ Dung Dữ gật đầu: “Ta biết rồi.”
Vệ Quyết nhìn chung quanh, không khỏi hỏi: “Ở khu mỏ thế nào rồi, đã tìm được Sầm Tuyết Minh chưa?”
Kỳ Minh đáp: “Đã có manh mối.”
Rồi hắn thuật lại đại khái chuyện Thanh Duy đã trộm hồ sơ thế nào, Sầm Tuyết Minh cải trang thành Mông Tứ để đến khu mỏ ra sao.
“Hiện tại bọn ta đang nghi ngờ không phải Sầm Tuyết Minh bị chết rét mà là chết oan, chẳng qua trong mỏ có chuyện giấu giếm chúng ta, sống chết không chịu mở miệng. Tối qua hai quan lại trong trấn còn bỏ chạy, Nhạc tiền bối đã đuổi theo suốt đêm, có lẽ bây giờ cũng gần về rồi.”
Đúng lúc này ngoài cửa có tiếng động, quả nhiên là Nhạc Ngư Thất xách Lưu Chưởng sứ và Đào lại về.
Lưu Chưởng sứ và Đào lại bị Tiểu Chiêu vương cử người bắt về ngay trong đêm, bấy giờ sợ tới mức mặt mày tái mét, vừa vào sở nha, cả hai không dám hé mắt ngó nghiêng, run run nói: “Dám… dám hỏi điện hạ… tìm chúng hạ quan về… là vì lí do gì ạ.”
Chương Lộc Chi biết Tạ Dung Dữ muốn gạ hỏi bọn họ nên lập tức quát lớn: “Vì sao bắt các ngươi về mà các ngươi cũng không biết hả?!”
Lưu Chưởng sứ và Đào lại nhìn nhau, “Xin… Xin Chiêu vương điện hạ khai sáng.”
“Các ngươi quả đúng là to gan!” Chương Lộc Chi đập bàn mắng, “Chuyện lớn đến vậy mà hai ngươi không chịu thành thật khai báo, còn dám cấu kết với trong mỏ giấu giếm, các ngươi đã biết tội chưa!”
Đầu gối của Lưu Chưởng sứ và Đào lại nhũn như chi chi, quỳ sụp xuống đất: “Điện hạ minh giám, chúng hạ quan thật sự không biết điện hạ muốn chúng hạ quan nói gì…”
Chương Lộc Chi “chậc” một tiếng, xắn tay áo lên, “Chết tới nơi rồi còn mạnh miệng…”
Tạ Dung Dữ giơ tay cản lại, y cầm tách trà lên, ngồi ở ghế chủ, thong thả nói: “Nếu hai ngươi không biết phải bắt đầu từ đâu thì bổn vương có thể nhắc nhở, ba năm trước, vào năm Gia Ninh đầu tiên, rốt cuộc Mông Tứ chết như thế nào?”
Nghe câu hỏi ấy, quả nhiên Lưu Chưởng sứ và Đào lại đều biến sắc.
Nếu bọn họ mới chỉ đoán Hiệu úy họ Chương đang thăm dò mình, thì câu hỏi này của Tiểu Chiêu vương sẽ khiến bọn họ ngờ rằng bí mật trong khu mỏ đã bị tiết lộ.
Bằng không làm sao Tiểu Chiêu vương biết về cái chết bất thường của Mông Tứ?
Tạ Dung Dữ nói tiếp: “Hắn không phải chết rét mà là chết oan. Nếu bổn vương đoán không sai, trước khi chết, chắc hẳn hắn ta đã nói gì đó với các ngươi, chẳng qua các ngươi xem hắn là kẻ điên nên không tin, còn nữa…”
Tạ Dung Dữ đặt tách trà xuống, nghiêng người tới trước, “Thạch Lương, vị quan Trung Châu đến nhận xác cho Sầm Tuyết Minh, rốt cuộc đã đi đâu?”
“Vẫn chưa chịu nói?” Tạ Dung Dữ nhìn Lưu Chưởng sứ và Đào lại đã áp sát mặt xuống đất, hai vai run lên cầm cập nhưng vẫn cắn chặt răng, “Ngươi tưởng chỉ cần tiếp tục giấu giếm thì toàn khu mỏ có thể giữ được tính mạng sao, Phong Nguyên dẫn bao nhiêu người tới, Huyền Ưng Ti lại có bao nhiêu, các ngươi còn chưa thấy rõ à?”
Tạ Dung Dữ từ tốn nói, “Thực ra các ngươi cũng chưa hẳn sai quá, tình hình trong mỏ thế nào, rất nhiều chuyện bất đắc dĩ, nhưng, nếu phá hỏng quy tắc, tất triều đình sẽ truy cứu đến cùng. Lưu Chưởng sứ, ông là Chưởng sứ khu mỏ này và cũng là trấn trưởng trấn Chi Khê, ông tưởng nhiều quân lính như thế đến khu mỏ chỉ để bắt quân giám sát và phạm nhân lưu đày ư, thợ mỏ trong trấn, đừng hòng ai thoát được. Nếu nói thật thì còn có thể lập công chuộc tội, bổn vương có khoan dung hay không phụ thuộc vào việc ông có chịu nói hay không.”
Tạ Dung Dữ đã đâm trúng tim đen của Lưu Chưởng sứ.
Ông không những là Chưởng sứ trong trấn mà còn là trấn trưởng trấn Chi Khê, biết bao nhiêu người sống dựa vào ông, lỡ mà xảy có chuyện, phụ nữ trẻ con trong trấn biết phải sống thế nào.
Hơn nữa, vì sao Tiểu Chiêu vương biết thợ mỏ cũng bị cuốn vào rắc rối nơi này?
“Được rồi.” Lưu Chưởng sứ cắn răng, “Hạ quan nói.”
***
Giữa trưa mặt trời chói chang, rèm sau của một căn lều trong doanh trại được vén lên, một thi thể được khiêng ra, thi thể phủ vải trắng thấm loang lổ máu. Một vệ binh đi tới vén vải lên nhìn, sau đó khoát tay, hạ giọng nói: “Đem đi đi, cẩn thận đừng để ai bắt gặp.”
Người khiêng thi thể đáp một tiếng, chạy nhanh vào rừng xử lý thi thể.
Một lúc sau, Phong Nguyên đi tới, vệ binh tiến lên bẩm báo: “Tướng quân, vừa nãy có hai phạm nhân chết, số còn lại sợ quá đã khai hết rồi, nhưng chúng nói năng lung tung lộn xộn, xem ra cũng không biết được bao nhiêu, tập hợp lại thì có lẽ sẽ ghép thành chân tướng.”
Phong Nguyên gật đầu, sải bước đi vào lều, cầm lời khai trên bàn lên xem, hỏi, “Rốt cuộc Mông Tứ chết thế nào?”
Không có bí mật nào quan trọng hơn tính mạng bản thân.
Phạm nhân thấy đã có hai người bị dụng hình đến chết thì đã có ý khai báo, nay nghe Phong Nguyên hỏi, một trong số chúng lập tức đáp: “Hồi bẩm quan gia, Mông Tứ hắn ta… hắn ta chết vì đào mỏ.”
***
“Tên Mông Tứ này, không phải chết vì rét mà chết vì đào mỏ.”
“Chết vì đào mỏ?”
“Đúng thế.” Lưu Chưởng sứ nói, “Có thể điện hạ không quen với trình tự khai thác mỏ, mỏ trong núi này không phải cầm xẻng đào là xong, mà nếu có khoáng sản nằm sâu trong núi thì cần phải cho nổ, ý là… dùng thuốc nổ nổ núi tạo đường. Đó là lí do vì sao trong mỏ có nơi chứa vại dầu và đá tiêu*.
(*Đá tiêu: Chất trong suốt, đốt cháy dữ, dùng làm thuốc súng thuốc pháo và nấu thủy tinh.)
“Bình thường nổ núi đào mỏ chỉ cần đặt thuốc súng tại vị trí cần khai thác, sau đó đốt ngòi nổ từ xa là được, nói thì dễ nhưng thực tế có rất nhiều khó khăn, ví dụ như để đề phòng cháy nổ thì ngòi nổ không được quá dài; hoặc thỉnh thoảng nổ núi sẽ khiến núi sập, người ở xa đến đâu cũng gặp nguy hiểm. Cho nên từ lâu Ti Khoáng Thự của triều đình đã đề ra quy định là chỉ thợ mỏ có kinh nghiệm mới được dẫn đội đào mỏ nổ núi. Nhưng dù thợ mỏ có kinh nghiệm tới đâu, một khi gặp phải tai nạn hầm mỏ cũng rất khó tránh khỏi, nên hồi xưa có rất nhiều thợ mỏ đã chết vì nổ núi. Lại nói về Mông Tứ…”
***
“… Tên Mông Tứ ấy, hồi mới tới mỏ rất ít nói, mấy người đi chung như chúng tôi chỉ biết hắn là kẻ khùng khùng điên điên, không có gì đặc biệt.” Phạm nhân không chịu nổi hình phạt khốc liệt đã khai ra.
“Nhưng cuộc sống trong mỏ quá cực, cho tới ba năm trước – chính là năm Gia Ninh đầu tiên, có một buổi tối, Mông Tứ đột nhiên nói với tôi, hắn không muốn ở lại trong mỏ nữa, sống ở đây còn không bằng chết. Khi ấy tôi còn tưởng hắn nói chơi, ai dè ngày hôm sau, hắn lập tức đi tìm quân giám sát mà hắn không phải là Mông Tứ, thân phận thật của hắn là mệnh quan triều đình, vì có kẻ muốn giết hắn nên mới thế Mông Tứ vào khu mỏ.”
Nghe đến đây, Phong Nguyên lập tức sáng tỏ.
Năm Gia Ninh đầu tiên, Gia Ninh đế đại xá thiên hạ, Sầm Tuyết Minh nếm quá nhiều cơ cực nên đã sinh tâm lý ăn may, nghĩ có lẽ rắc rối Tiển Khâm Đài đã qua, không ai truy đuổi mình nữa, hắn có thể rời mỏ tìm nơi khác bình an.
“… Mông Tứ hắn điên điên khùng khùng, hắn nói mình là mệnh quan triều đình, có ai tin? Khi ấy quân giám sát còn cười cợt hắn, nói, ‘nếu ngươi là mệnh quan triều đình, vậy ngươi họ tên gì, nhậm chức nào ở đâu’, Mông Tứ lại bảo tạm thời không thể tiết lộ.”
Dĩ nhiên gã sẽ không nói rồi, nếu gã để lộ mình là Sầm Tuyết Minh, Khúc Bất Duy sẽ tìm được gã đầu tiên.
Phong Nguyên nói: “Tiếp đi.”
“Thế là Mông Tứ đã nghĩ ra một cách…”
***
“Vì mỗi lần nổ núi đều gặp nguy hiểm, dần dà trong mỏ đã sinh ra một quy định bất thành văn.” Lưu Chưởng sứ do dự một lúc lâu, đoạn khai ra, “Đó là không để thợ mỏ có kinh nghiệm vào núi, thay vào đó đưa phạm nhân lưu đày di, dĩ nhiên để báo đáp, quân giám sát cũng sẽ mang lại cho bọn họ một số lợi ích, hoặc giúp họ thực hiện nguyện vọng trong khả năng của mình.”
“Nói thật, phạm nhân ở trong mỏ đã quá lâu, nguyện vọng của bọn họ cũng chỉ là mấy việc nhỏ nhặt như là gửi thư cho người nhà, muốn biết tin về người nhà, ai không có nhà thì muốn ăn đồ ngon, ở chỗ tốt hơn, vào thu thì được ăn cơm thịt, mùa đông có thêm chiếu vải rách, ít nhiều cũng đủ thỏa mãn. Đúng dịp lần đó phải nổ núi, thế là tên Mông Tư đã xung phong nhận việc, đổi lại hắn muốn nhờ quân giám sát gửi thư cho một người tên Thạch Lương ở nha môn Trung Châu, hắn nói Thạch Lương này sẽ đem bằng chứng chứng minh thân phận của hắn tới. Thạch Lương vốn là người liên lạc khi Mông Tứ gặp chuyện, do đó yêu cầu này của Mông Tứ cũng hợp tình hợp lí, quân giám sát liền đồng ý luôn. Nào ngờ đúng vào lần đó, việc nổ núi lại xảy ra chuyện…”
***
Phạm nhân cố nhớ lại vụ nổ núi trong mỏ Chi Khê vào ba năm trước, “… Thuốc nổ làm núi nổ tung, tôi chỉ nhớ sau một tiếng ầm, khắp núi vang lên tiếng động lớn, đá tảng từ trên văng xuống, người trong hầm mỏ chạy, người ở xa thì chạy thoát được, nhưng còn mấy người ở gần, đặc biệt là những người phụ trách việc nổ núi, không ai trong số họ sống sót, tất cả đều bị chôn vùi dưới chân núi, bao gồm Mông Tứ…”
***
“Thật ra có một hang động gần chỗ bọn họ. Nếu để thợ mỏ có kinh nghiệm dẫn thì mấy người nổ núi khai mỏ chưa chắc phải chết, nhưng … tội phạm lưu đày lấy đâu ra kinh nghiệm, thấy núi đá đổ thì rơi vào hỗn loạn. Cuối cùng, tổng cộng bảy người bao gồm cả Mông Tứ, không một ai sống sót.
Để phạm nhân lưu đày nổ núi đào mỏ là vi phạm quy định, nếu triều đình mà giáng tội, từ quân giám sát, thợ mỏ cho đến phạm nhân không một ai có thể thoát, vậy phải làm gì đây? Trong mỏ buộc lòng phải nói những tù nhân này chết rét chết đói, sau đó dựa theo lệ viết thư mời thân nhân của những bọn họ đến nhận xác, nhưng sẽ nói thi thể đã thối rữa nên đã dùng đuốc thiêu.
“Hơn hai tháng sau kể từ khi gửi thư thông cáo, lần lượt có người vào mỏ, bao gồm cả vị Điển bạc họ Thạch ở nha môn Trung Châu. Thạch Điển bạc đã viết cho chúng tôi một lá thư ngay khi vừa đến Lăng Xuyên, yêu cầu chúng tôi tới trấn Chi Khê đón người, chúng tôi lập tức lên đường, nhưng chờ ở trấn hơn nửa tháng mà vẫn chẳng thấy người.”
“Thạch Lương đi đâu?” Kỳ Minh truy hỏi.
Lưu Chưởng sứ ngập ngừng, cuối cùng hạ quyết tâm nói: “… Y đã chết rồi.”