A Đa Đa thấy hai người họ đứng cạnh nhau nói chuyện, cứ mở miệng là lại nói mấy chuyện về quân lính này nọ, hắn không tài nào hiểu nổi, như thể đang tạo một kết giới giữa hai người không kẻ nào chen chân vào được.
Hắn tức giận lập tức đi tới đẩy hai người họ ra nói:
“Ôi trời, muốn biết lí do thì đi tìm những người dân kia hỏi không phải được rồi sao?”
Dạ Huân Thiên gật đầu đồng ý, Hạ Thôi Mị cũng nhanh chóng lên ngựa. Cả đám người quay đầu đi về hướng những người dân ban nãy chạy trốn.
Đi được một lúc thấy người dân đang ngồi nghỉ mệt dưới những gốc cây, tiếng khóc lóc ai oán, tiếng trẻ con lạc mẹ, tiếng người thân bệnh ốm. Tất cả đồng loạt cùng vang lên.
Nhìn cảnh tượng này Dạ Huân Thiên trong lòng như mọc một cái gai chưa nhổ được, người dân của hắn sao lại khổ sở như vầy chứ.
Dạ Huân Thiên cùng mọi người bước xuống xe ngựa, đi đến chỗ người dân hỏi han.
Trước mặt hắn là một vị đại thẩm, khuôn mặt gầy gò, nước da vàng vọt, hắn hỏi:
“Sao mọi người lại không về nhà, vì sao lại bị đám lính kia đuổi giết?”
Vị đại thẩm nói:
“Chúng tôi là người dân vùng Thiệm Chiếu này, mấy năm nay lũ lụt dâng cao, nhà cửa của cải đều bị lũ cuốn sạch rồi, chúng tôi vốn đang vui mừng vì được bên trên tiếp tế, nhưng Hoàng Thượng là một người có nói mà không có làm, nhiều năm như vậy thỉnh thoảng chỉ phát chút cháo chứ không có ngân lượng phát xuống như những gì đã nói.”
Dạ Huân Thiên giật mình, tại sao lại có thể chứ, chính hắn là người đóng dấu ban ngân sách xuống phát cho người dân gầy dựng cuộc sống, giờ lại bảo là không có ư?
“Chẳng giấu gì đại thẩm, ta là thương nhân ở trên kinh thành có việc đi qua huyện Thiểm Chiếu, ở huyện khác, chúng tôi đều phải đóng thuế để thu gom ngân lượng cứu trợ vùng lũ, sao lại có thể không ban xuống ngân lượng được.”
Dạ Huân Thiên vừa hỏi, sắc mặt nghiêm túc vô cùng.
Ông lão bên cạnh cách đó không xa liền nói:
“Chúng tôi nào biết, chỉ biết rằng cái tiếp tế mà Hoàng Thượng nói là thỉnh thoảng phát cho vài bát cháo, vài túi gạo mốc, cũng là bữa có bữa không, chúng tôi sống cuộc sống nay đây mai đó không nhà không cửa, người thân cũng không chịu được mất dần đi…để lại…để lại thân già này phải…kẻ đầu bạc tiễn người đầu xanh.”
Ông lão vừa nói, vừa đau lòng nhớ lại vợ và con trai của mình cũng mất do thường xuyên ăn gạo mốc hỏng mà chết.
Nhìn bộ dạng khóc đến thảm thương của ông lão, Dạ Huân Thiên lòng càng như lửa đốt, tay chân luống cuống không biết đặt vào đâu.
Hạ Thôi Mị liền đi đến hỏi:
“Vậy tại sao mọi người lại bị quân lính đuổi vậy.”
“Là vì chúng tôi là những người bạo động đứng lên đi cướp gạo ở kho lương thực nên bị truy bắt.”
“Kho lương thực ư? Còn có kho lương thực mà để người dân chết đói ư?” Hạ Thôi Mị khó hiểu hỏi.
“Phải, họ chỉ phát cho dân nghèo chúng tôi những phần gạo ở dưới đáy, cuối sót, thường đã bị mốc xanh mốc vàng mối mọt hết cả, không dùng được nữa, nhưng vì quá đói chúng tôi vẫn phải ăn thôi.” Người dân vừa nói vừa nuốt những dòng nước mắt mặn chát của chính mình. Cay đắng, đau khổ, cùng cực, mất mát, đau thương, có lẽ đời người bao nhiêu cái khổ ba năm gần đây tất cả họ đều đã được nếm trải đủ cả rồi.