Nước dâng ngày càng mạnh, tứ bề đều ngấm nước bắt đầu đổ vỡ, sụt lở,tất cả đều bị nước lũ cuốn đi, đám sương mù do con cá khổng lồ thổi racũng tan đi một nửa, đám quân lính trong thành chẳng còn lại mấy người,giờ đang tranh nhau thoát thân.
Đạm Đài Minh Nguyệt nói với Dương Phương: “Tường thành cũng sắp sậprồi, nhân lúc nước còn chưa dâng cao, chúng ta phải chạy qua chỗ chưa bị sương khí lan tới, rồi leo lên phía trên chỗ nóc điện vàng, chỗ đótương đối cao, có thể tránh thêm một thời gian nữa.”
Dương Phương đang quan sát động thái của con cá, cầm lấy ngọn đuốctrên tay Nhị Bảo, ném về phía con cá, theo ánh đuốc anh ta thấy nó đangnhả ra từng người lính mà nó vừa nuốt trước đó, từng người bước ra từmiệng cá, những người này hai mắt đỏ rực, da mặt xanh lét, có người đãleo lên được tường thành, tìm những tên lính còn sống để cắn, dù bị đạnbắn xuyên đầu cũng không có cảm giác gì.
Ba người thấy cảnh tượng đó thì hết sức kinh hãi, nghĩ tới chuyện bức tượng phật trong chùa Đại Hộ Quốc là để trấn áp yêu quái, hoá ra nhữngngười này chết đi sống lại kia đều do con cá này nuốt sống rồi biếnthánh xác quỷ, thời đó những sự việc như vậy thường được gọi là xác quỷ. Xác chết đã bị quỷ nhập, chặt gãy đầu vẫn tiếp tục đi. Nghĩ tới đó, mặt ai cũng thất sắc kinh hãi, vội vàng trốn chạy. Thực ra con cá lớn kianuốt người không phải để ăn thịt, nó dùng mùi hương thơm dụ dỗ người vào trong bụng để nuốt trứng của nó, sau khi nuốt thì con người trở thànhnơi trú ngự của trứng cá, cho dù có bị chôn trong lòng đất cũng khôngchết, không còn có ý thức, chỉ thích hút máu người.
Việc này Dương Phương rất ít gặp, chỉ nghĩ rằng đó là xác quỷ. Nhìnthấy đường hầm lúc tới đây đã ngập trong nước, xem ra đã tới bước đườngcùng, chỉ còn cách lội trong nước đã ngập tới lưng, cố ra được tới đạiđiện, nước nhanh chóng dâng lên ngập tới ngực rồi tới cổ, đuốc đã bị tắt vì ướt, Dương Phương vội bật đèn pin để soi sáng, liều mạng leo lên nóc đại điện, nhìn thấy nước ngập càng lớn hơn, tường thành đã ngập trongnước, đội quân phiệt tên thì chết tên thì trốn, giờ không còn bóng dángđứa nào.
Lúc này, họ bỗng thấy Đồ Hắc Hổ cũng leo lên nóc đại điện. Người nàyvốn tính đa nghi, thấy sương mù bay tới thì vội trốn trong khe đất ởcổng thành cho tới khi sương tan, thấy tình thế nguy hiểm đã qua mớichui ra leo lên chỗ cao hơn để tránh nước, khó khăn lắm mới thoát được,súng đã mất, chỉ còn đuốc và đao, bộ dạng hết sức tàn tạ, nhưng gặp lúcloạn cũng không mất bình tĩnh, vẫn giữ được nét mặt lạnh lùng, thấy bangười Dương Phương đang trốn ở đỉnh điện, trong tay vẫn còn súng, hắnvội nấp sau ngách nhà.
Đàm Đài Minh Nguyệt nghiến răng: “Đồ Hắc Hổ mệnh lớn thật, vừa rồi cứ tưởng hắn đã bị cá nuốt rồi”. Trong chốc lát cả thành trì đều ngậptrong nước, chỉ còn nóc đại điện nhô lên trên mặt nước. Dương Phươngnói: “Đại điện cũng sẽ nhanh chóng bị chìm thôi, tới lúc đó chúng tachẳng ai sống nổi, nhưng nếu tôi không quất được một roi lên đầu tên ĐồHắc Hổ thì có chết cũng không thể nhắm mắt được.” Đạm Đài Minh Nguyệtnói: “Được, tôi và Nhị Bảo sẽ đi cùng anh, chúng ta có chết cũng chếtcùng nhau.” Dương Phương nói: “Đao pháp của Đồ Hắc Hổ rất lợi hại, haingười làm sao tiếp cận được hắn, hai người ở phía sau yểm hộ cho tôi làđược.” Nói rồi anh chỉnh sửa tư thế, cầm sẵn roi trong tay, tiến thẳngvề chỗ Đồ Hắc Hổ.
Đồ Hắc Hổ ủ mưu đã nhiều năm, cố tìm cho được tòa thành trì này, giờchỉ có thể giương mắt ra nhìn tòa bảo điện bằng vàng mà không thể nuốttrôi. Bày trăm phương nghìn kế tưởng như đã thành công thì trong chốclát bỗng thành ra trắng tay, thuộc hạ đều chết hết, ngay cả bản thânmình cũng khó mà thoát thân, chỉ sợ là do mộ tổ bị đào trộm nên mới xuixẻo thế này, càng nghĩ càng thấy hận, lại thấy Dương Phương đi tới, hắnchỉ thẳng vào mặt chửi: “Tên họ Dương kia, ngươi dựa vào chiếc roi đồng, dám đánh tay đôi với tao không?” Dương Phương không nói không rằng, giơ roi lên nhằm đầu Đồ Hắc Hổ quất tới.
Đồ Hắc Hổ phẫn nộ: “Bắt nạt người quá đáng!” hắn nhìn thấy roi đồngquất tới quá nhanh không kịp tránh, đành phải giơ đao lên đỡ. Roi đồngcủa Dương Phương quất lên ngói vàng, chỉ thấy toé lửa, ngói vỡ tan tành. Từ trước đến giờ, khi Dương Phương đã vung tay quất roi đồng, thì không một ai đỡ nổi, ngay cả roi đầu tiên bởi thế anh không khỏi khâm phụcbản lĩnh cao cường của Đồ Hắc Hổ. Thường ngày, Đồ Hắc Hổ tự xưng Thầndũng, chưa có ai là đối thủ của hắn, giờ đây vì trong tay chỉ có thanhđao, không thể đấu lại với roi đồng, thân pháp cũng không nhanh nhẹnbằng Dương Phương, hơn nữa đứng trên nóc đại điện trơn thế này, hắn đãthất thế hơn Dương Phương rồi.
Đạm Đài Minh Nguyệt và Nhị Bảo phía bên kia của nóc đại điện căngthẳng nhìn sang. Lúc này, nước vẫn không ngừng dâng lên, rất nhiều xácquỷ từ dưới nước mò lên lao về phía bốn người, Dương Phương và Đồ Hắc Hổ trong tình thế nguy cấp không thể tiếp tục giao đấu, đành phải buôngtay tự mình ứng chiến với bọn xác quỷ. Nước vẫn tiếp tục dâng, tất cảđều rút lên nóc điện, tiếng nước vẫn chảy ào ào.
5
Lúc này, bọn xác quỷ đã leo lên đỉnh điện, há to cái miệng đầy máu,thè lưỡi về phía Nhị Bảo đang đứng đờ người ra. Dương Phương nhanh taynhanh mắt, nhảy tới tung roi quất lên đầu tên xác quỷ, hắn bắn tung lênkhông trung rồi rơi xuống nước.
Đồ Hắc Hổ nhân lúc Dương Phương cứu người, liền rút đao ra, Đạm ĐàiMinh Nguyệt đứng bên cạnh nhìn thấy vội giương súng lên bắn, tiếng nướcào ào như sấm nuốt chửng tiếng súng, Đồ Hắc Hổ không kịp đề phòng nêntrúng đạn, quá tức giận, trước khi chết cũng muốn kéo theo một ngườichết cùng, liền phóng đao về phía Đạm Đài Minh Nguyệt, hai bên đều đứngtrên nóc điện không kịp né tránh, thanh đao đâm thẳng vào bụng cô lútcán. Lúc này, Dương Phương quất roi nện trúng đầu Đồ Hắc Hổ như bổ dưahấu, hắn lăn xuống mép nóc điện rơi xuống nước chìm nghỉm.
Dương Phương thấy Đạm Đài Minh Nguyệt trúng đao vội chạy tới đỡ cô,Nhị Bảo cũng chạy tới khóc tướng lên, chỉ thấy Đạm Đài Minh Nguyệt mặttrắng bệch như tờ giấy, tính mạng chỉ còn trong gang tấc, bỗng trời rung đất lở, lớp đất vỏ bọc bên ngoài khu thành trì bị nước lụt ngấm vào trở nên mềm và tơi ra, đổ sụp xuống, để lộ ra bầu trời bên ngoài, nước đổvào bên trong ầm ầm như thác, Dương Phương đối diện với sự cố bất ngờnày cũng không khỏi kinh hãi.
Đúng lúc đó, nước lũ xoáy bật gốc một thân cây rất lớn cuốn vào bêntrong động cát, thân cây va vào nóc đại điện, Dương Phương biết đây làcơ hội sống sót, giờ còn không chạy thì chờ tới lúc nào nữa? Anh ta vộitúm lấy chân của Nhị Bảo giờ đang sợ mềm nhũn ra, sau đó ôm lấy Đạm ĐàiMinh Nguyệt nhảy lên thân cây, vừa rời khỏi nóc đại điện thì nước lụtcũng nhấn chìm tất cả, hai người ôm chặt lấy thân cây, động cát phútchốc chìm trong biển nước, thân cây theo dòng nước nổi lên, chỉ thấyphía trên một màn trời nước, thi thoảng thấy vài điểm đen trôi qua, đềulà xác người và động vật chết đuối.
Trận lụt này đúng là “Tứ bề mênh mang dòng nước, lũ sơn hà khoảnhkhắc bỗng tiên tan”, lũ lụt ở hai bờ sông Hoàng Hà lần này còn nghiêmtrọng hơn lần quân phiệt cho mở cửa đập thủy lợi, khắp nơi bị bùn đấtlấp đầy, dòng chảy của sông đổi qua hướng nam, kim bảo điện, tượng phậttrong chùa Đại Hộ Quốc chìm trong bùn nước, vĩnh viễn không có cơ hộinhìn thấy ánh mặt trời.
Dương Phương thấy thân thế Đạm Đài Minh Nguyệt trong lòng mình đanglạnh dần, biết là cô đã ra đi, trong lòng đau đớn vô cùng, bất giác haidòng nước mắt tuôn rơi. Anh và Nhị Bảo ôm thi thể của Đạm Đài MinhNguyệt, chờ cho tới khi nước rút. Thôn làng nơi đây đã bị huỷ hoại hoàntoàn, số người và súc vật chết nhiều không đếm xuể, dân chạy nạn xếphàng dài, khắp nơi toàn là cảnh tượng thê lương.
Mặc dù mưa gió đã tạnh nhưng khắp nơi đều là bùn đất, hai người họkhông màng tới điều đó, tìm đường tránh vùng lũ lụt, qua sông đi lênphía bắc, tìm nơi cao ráo lập ba ngôi mộ, một ngôi cho Đàm Đài MinhNguyệt, hai ngôi còn lại lập cho ông chủ Triệu và Mạnh Bôn. Nhị Bảo ởlại trông mộ để giữ chữ trung thành với chủ. Dương Phương nghĩ tới việctuy đã giết được Đồ Hắc Hổ nhưng số người chết quá nhiều, Thôi lão đạo,Mạnh Bồn, ông chủ Triệu, Đạm Đài Minh Nguyệt, và cả số lính đã biếnthành người quỷ kia thì tâm trạng bỗng trở nên rất ảm đạm. Một mình tiến thẳng lên phía bắc. Khi ngang qua thị trấn Cao Đài không ngờ gặp lạiThôi lão đạo, sau khi gặp đại nạn còn sống sót và trùng phùng, hai người kể lại cho nhau nghe những gì mình đã trải qua. Thôi lão đạo rơi xuốngnước nhưng mạng lớn không chết, được người cứu lên, Mạnh Bôn không mayđã bỏ mạng. Ông ta lại lo lắng cho Dương Phương lành ít giữ nhiều, khổnỗi không biết đâu mà tìm. Nhớ lại lần đó hẹn nhau ở thị trấn Cao Đàinên đành tới đây chờ tin tức.
Thôi lão đạo chảy nước mắt nói: “Huynh đệ ta lần này như đi vào chỗchết, không ngờ còn sống mà gặp lại nhau, tiếc rằng Mạnh Bôn đã chếtdưới làn súng đạn của lũ quân phiệt, còn bị chặt đầu, số đồ lấy đượctrong mộ tổ nhà Đồ Hắc Hổ cũng mất rồi. Xem ra cuộc đời lão đạo ta chẳng làm được gì, động đến việc gì là tự chuốc vạ vào thân, còn liên lụy đến huynh đệ.”
Dương Phương có phần chán nản: “Sao huynh trưởng lại nói vậy. Sốngchết có số, phú quý do trời định, không phải do con người muốn mà được.Đồ Hắc Hổ đã chết trong động cát, chúng ta đã thay trời hành đạo, trừ đi mối họa lớn cho nhân dân.”
Thôi lão đạo nghe Dương Phương kể lại mình bị bao vây bên bờ sông rasao, rồi thoát xuống động cát và trốn trên nóc điện vàng thế nào, tìnhthế giao tranh gay cấn với Đồ Hắc Hổ, rồi chuyện gặp con cá khổng lồdưới đó ra sao. Với kinh nghiệm của Thôi lão đạo cũng không phán đoánđược thành trì đó của thời đại nào, chắc của ông vua triều đại nào đósùng bái đạo giáo, muốn tu luyện thành tiên, thấy trên trời mây gió biến hoá bất thường nên ra lệnh xây Kim điện bên bờ sông nhằm mời các vịtiên tới thưởng ngoạn, nào ngờ tiên chẳng thấy đâu còn cung điện bị lúnchìm trong động cát.
Lão lại bảo, đây là trận lụt lớn nhất trong một trăm năm qua, nên giờ chúng ta phải đi đào mộ cổ trên núi lấy báu vật về để trấn áp thiêntai. Trong “Lăng phả”[1], có ghi chép về ngôi mộ cổ trên núi Hùng Nhĩ,tại vị trí giáp ranh hai nước Tân và Tề, trong mộ vàng bạc chất như núi, trong quách là quan tài bằng ngọc, dùng ngọc minh châu thay cho nến,cũng chẳng biết chủ nhân ngôi mộ là ai mà nhiều đồ tuỳ táng có giá trịnhư vậy. Nhưng ngôi mộ chìm dưới nước từ lâu, gặp trận hạn hán trăm nămmới có một lần thì lộ ra trên mặt nước, cũng biết là nơi đó khó ra tay,định tìm ngôi mộ khác nhưng lại quá xa. Dương Phương nói: “Đổ đấu mấtnhiều thời gian mà việc tập trung lương thực cứu người dân bị nạn thìlại cần gấp. Theo ý kiến của đệ thì phủ đệ của Thống đốc quân phiệtthành Lạc Dương không hề thiếu vàng bạc châu báu. Trong thành tuy cóquân lính canh gác, nhưng chúng ta cũng có nhiều anh em, sao không nhâncơ hội Đồ Hắc Hổ vừa mới chết, quân phiệt như rắn mất đầu, chúng ta tụhội anh em lại, đêm đến lần vào phủ đệ của hắn quét sạch một mẻ, đổi lấy lương thực về cứu tế cho dân bị nạn”. Thôi lão đạo thấy ý kiến củaDương Phương cũng hợp lý nên sau đó họ tụ hợp dân đào trộm mộ đại náothành Lạc Dương, chuyện này tạm không nhắc tới. Còn Nhị Bảo thì báiDương Phương làm sư phụ. Nhị Bảo vốn chỉ là tên thân mật, tên thật làTriệu Bảo Nghĩa, chính là lão Nghĩa mù, tính theo thứ bậc thì phải gọiThôi lão đạo là sư thúc. Sau này, khi mắt kém, lão không còn làm côngviệc đổ đấu nữa, chỉ giám định cổ vật, tôi càng không thể gọi là đồ đệcủa lão Nghĩa mù, chỉ hay đi theo ông, võ vẽ được chút ít, nghe ông kểvề nhũng chuyện đào mộ của lớp người trước, chớp mắt thời gian đã mấychục năm, trải qua cả một thế hệ, Thôi lão đạo, Dương Phương đều đã quađời, giờ tới lão Nghĩa mù cũng không còn nữa, vài chiêu này của tôichẳng là gì cả, lại không biết tí gì về ngôi mộ cổ đó, chẳng hơn thôngtin biết được ở thôn Phi Tiên là bao.
[1] Lăng phả: Những ghi chép về lăng tẩm.Tôi kể lại câu chuyện cho Điếu bát và Mặt dày nghe, mục đích để họcsớm từ bỏ ý định đó, tôi nói: “Ngôi mộ cổ mà Thôi lão đạo nói với DươngPhương có thể là địa cung ở núi Hùng Nhĩ được vẽ trên chiếc gối, chúngta còn không biết mộ chủ là ai…”, nói tới đây tôi chợt nhớ lại ác mộng bên cạnh nữ thi Saman, trong bức bích họa vẽ lại giấc mơ cũng thấy cóquan tài bằng ngọc và tượng vàng, có phải nói về hầm mộ trong núi HùngNhĩ không? Trong cơn ác mộng nghìn năm đó có hình ảnh người chết, đầutóc rũ rượi bò từ trong quan quách ra, tôi muốn quên hình ảnh đó đi màkhông thể quên được, nơi đó hẳn lành ít giữ nhiều.
6
Hai người kia ngồi nghe say sưa, mỗi người đều có cảm nhận riêng,nhưng một khi lòng tham đã nổi lên thì Phật tổ Bồ tát cũng không thể nào khuyên họ quay đầu là bờ được, nói tới nói lui vẫn quay về chủ đề ngôimộ ở Dự Tây.
Điếu bát nói: “Nếu bán chiếc gối âm dương này đi, anh em ta mỗi người chia nhau một ít, rồi cũng chẳng được bao nhiêu, giờ có cơ hội phát tài như vậy sao lại phải bỏ qua chứ?”. Anh ta quyết tâm chưa thấy Hoàng Hàchưa thay đổi quyết định, nhất quyết theo vụ này đến cùng, thành bạicũng chỉ một lần, anh ta chẳng thèm bàn bạc gì với tôi và Mặt dày đã tựđộng đập chiếc gối ra và tìm thấy một tấm bản đồ đã cũ ở bên trong, rồimở ra cho tôi xem.
Trong tấm bản đồ vẽ hình một cái hồ hai đầu hẹp ở giữa rộng, phía tây giáp với núi Kê Lung, phía đông giáp núi Thông Mã, phía bắc kề với Thảo Hài Lĩnh, ở thế ba phía đều là núi, chính giữa là hồ Tiên Đôn, nằmtrong dãy núi Hùng Nhĩ ở Dự Tây. Trên mặt hồ có đánh dấu khoanh tròn màu đỏ, đó chính là vị trí ngôi mộ cổ địa cung được xây dựng trong núi Tiềm Sơn, ngọn núi đó vốn là một trong những ngọn núi của dải núi trải dàiliên miên của vùng này, nghìn năm trôi qua, vì thay đổi địa chất khiếnngôi mộ nằm trong lòng hồ trong khu vực núi Dự Tây ít người biết đến,không có đường đi, phải trèo đèo vượt núi mới có thể tới được.
Tôi vốn bị ám ảnh bởi cơn ác mộng trong ngôi mộ cổ thời Liêu nên sắcmặt ngày một kém hơn, trong lòng biết chắc ngôi mộ này có gì đó rất cổquái, quan ngọc tượng vàng vốn là những thứ hiếm có trên đời, địa cungxuất hiện trong cơn ác mộng được vẽ trên bích họa tám chín phần là nóivề ngôi mộ cổ ở núi Hùng Nhĩ rồi. Tôi nghĩ gần đây chúng tôi đang gặpvận xui, họa vô đơn chí phúc bất trùng lai, các cụ đã nói vậy rồi, nhưng đã là phúc thì không phải hoạ, là họa cũng không tránh được. Không tớihầm mộ đó để tìm hiểu cho ra nhẽ thì có nghĩ nát óc cũng chẳng ích gì,cuối cùng tôi quay sang bàn bạc với hai người kia.
Tôi nói: “Có được một sự khởi đầu may mắn thì chúng ta đã thành côngmột nửa. Lần này đi Dự Tây khác hẳn với lần trước, cần phải chuẩn bịthật kỹ càng.”
Điếu Bát nói: “Cậu nói đúng ý anh, theo cậu chúng ta cần chuẩn bị những gì?”
Không đợi tôi cất lời, Mặt dày đã nói: “Còn phải hỏi, đầu tiên phảichuẩn bị đủ tiền, binh mã chưa có nhưng lương thảo phải chuẩn bị sẵn,lương thảo chẳng phải dùng tiền mua sao?”
Điếu bát nói: “Anh em mình giờ sống như buôn đồng nát, tiết kiệm chút đi, thế là cũng đủ rồi, còn chuẩn bị gì nữa?”
Tôi nói: “Đèn pin, lương khô, xẻng… những thứ này đều phải chuẩnbị, mộ cổ trên núi Hùng Nhĩ chìm trong nước nhiều năm, cho dù có lộ lênkhỏi mặt nước nhưng bùn đất cũng không ít, không phải một hai hôm mà đào xong ngay được, hơn nữa chúng ta chưa hề biết gì về ngôi mộ, cũng nhưvề hồ Tiên Đôn, thậm chí mộ đó chôn ai chúng ta cũng không biết.”
Điếu bát nói: “Ngôi mộ đó không phải do chúng ta nghĩ ra, sơ đồ do Âm Dương đoan công Chu Ngộ Cát để lại chắc không đến nỗi là giả. Lấy vídụ, nếu qua đập Tam Hiệp đi về phía Tây, là đến bến phà Phong Lăng,thường những địa danh nào có chữ Lăng thì đều có mộ cổ hết, chỉ vì niênđại quá lâu nên nhiều người không nói rõ được nguồn gốc của cái tên đómà thôi, bến Phong Lăng chính là nơi có mộ cổ.” Anh ta dừng lại một chút rồi lại tiếp: “Ý của tôi là có thể lai lịch của vị vua chôn trên núiHùng Nhĩ đã thất truyền, nhưng ngôi mộ thì vẫn còn tồn tại dưới hồ TiênĐôn, truyền thuyết để lại cũng không ít, dưới hầm mộ có tượng vàng tùytáng, ắt không thể sai được.”
Ba chúng tôi mỗi người một câu, bàn bạc với nhau trong quán lẩu từtrưa cho tới tối, không biết chủ quán phải thay bao nhiêu lần than. Tớikhi trời đã tối hẳn, ngoài đường không còn ai, ông chủ quán cũng mất hết nhẫn nại: “Mấy người cũng giỏi buôn chuyện quá đi, nếu biết mấy ngườicó cái tài này thì lúc đàm phán Trung – Anh đã đề cử mấy người đi rồi,muốn qua đêm cũng đừng chọn quán tôi, mau tính tiền rồi đi đâu thì đi.”
Chúng tôi bị chủ quán đuổi ra, trong lòng không được thoải mái cholắm, nhưng giờ không phải lúc gây chuyện phiền phức, đành quay về chianhau chuẩn bị, đầu tiên là phải kiếm cho đủ tiền đi đường. Tôi đi mộtchuyến Độc Thạch Khẩu, lấy ít tiền về cho Mặt dày sắp xếp việc gia đình, còn vấn đề nữa là tuy ở đó hay nổ mìn núi đá, thuốc nổ nhiều nhưng quản lý rất nghiêm ngặt, khó lấy được thuốc nổ hoặc mìn, tôi tìm người quenmới lấy được hai khẩu súng ngắn, đó là loại súng người dân tự chế để bắn gà rừng. Tôi nghĩ núi Hùng Nhĩ không giống như Thông Thiên Lĩnh, nơi đó rừng sâu núi thẳm, thú dữ lảng vảng khắp nơi, không mang theo khẩu súng phòng thân thì không an toàn, súng tự chế của người dân Độc Thạch Khẩubắn bằng đạn chì, sức sát thương không lớn, nhưng có còn hơn không,chúng tôi tháo súng ra xếp dưới đáy bao hành lý, để tránh bị phát hiệnlúc trên tàu.
Về nhà, tôi nhận được thư của Sách Ni Nhi, trong thử gửi kèm một góinấm mật Armillaria, tôi đang định đọc thư thì Điếu bát đã mua được vétàu, chúng tôi ngồi tàu tới Nam Dương trước, sau đó đi theo hướng đậpnước Áp Hà Khẩu để lên núi. Vì tuyến đường này ít chuyến tàu chạy nênngười đi rất đông, trong tàu chen chúc chật chội, lúc tàu đi ngang cầubắc ngang sông Hoàng Hà, tôi cố vươn người ra cửa sổ để nhìn ra ngoài,ánh chiều đã ngả về Tây, dòng sông dưới ánh nắng chiều trải dài như mộtchiếc đai ngọc, cảnh đẹp khó có thể miêu tả bằng lời. Trời chiều nhanhchóng chuyển sang màu ảm đạm, tối dần rồi đen hẳn một màu. Tôi lấy bứcthư của Sách Ni Nhi ra đọc, mơ màng nhớ lại lúc cùng cô đi săn trongrừng, rồi không biết tự lúc nào hình ảnh bức bích họa trong ngôi mộ cổthời Liên về cơn ác mộng nghìn năm bỗng hiện về trong đầu, một người tóc tai rũ rượi, bụng thủng lòi ruột bò ra từ trong quan tài, tay vươn vềphía tôi, tôi kinh hãi vô cùng, vội giơ tay lên đỡ, mu bàn tay chạm vàomóng của con ma đó, cảm thấy một luồng gió âm lạnh tới thấu xương, vừalúc tàu vào ga, tôi thức tỉnh vì bị chúi người về phía trước do tàuphanh giảm tốc độ. Trán đẫm mồ hôi, tôi biết mình lại mơ giấc mơ đó, cúi đầu nhìn xuống tay mình thấy có những vết xước đang rỉ máu.